CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của luận án Trong lễ trao giải Nobel kinh tế năm 2017 mà giáo sư Richard Thaler được vinh danh, ông đã phát biểu rằng: “In order to do good economics, you have to keep in mind that people are human,” tạm dịch: Để có những kết quả tốt trong kinh tế, cần nhớ rằng chúng ta là con người (Binyamin, 2017). Hàm ý trong câu nói này của Richard Thaler là các quyết định liên quan đến tài chính của chúng ta không phải là luôn luôn hợp lý. Trong đó, tài chính hành vi sử dụng kiến thức về tâm lý học để giải thích những giao dịch trên thị trường tài chính mà không thể giải thích đầy đủ bằng lý thuyết tài chính chuẩn tắc. Với hai giải Nobel kinh tế có liên quan đến tài chính hành vi, trao cho Daniel Kahneman (2002) và Richard Thaler (2017), cho thấy các nhà nghiên cứu học thuật hàng đầu trên thế giới không thể phủ nhận vai trò của tâm lý trong các quyết định kinh tế.
Các nghiên cứu tâm lý cho thấy tâm trạng được sử dụng như thông tin, như một điểm nổi bật, như một động lực và là thước đo tiền tệ chung liên quan đến việc phán đoán và ra quyết định trong tình huống không chắc chắn (Peters & cộng sự, 2006). Trên thị trường chứng khoán (TTCK), giá cổ phiếu có tương quan đồng biến với tâm trạng của nhà đầu tư. Cụ thể, tỷ suất sinh lợi chứng khoán (TSSL) cao hơn có liên quan đến tâm trạng tốt hơn, ngược lại, TSSL chứng khoán sụt giảm có liên đến tâm trạng tiêu cực của nhà đầu tư (Shu, 2010). Thậm chí tâm trạng không liên quan đến chứng khoán như tâm trạng trước kỳ nghỉ (Ariel, 1990), yếu tố thời tiết (Saunders, 1993), kết quả bóng đá (Edmans & cộng sự, 2007), niềm tin về sự may rủi và chu kỳ âm lịch (Dowling & Lucey, 2005) có thể ảnh hưởng đến TSSL chứng khoán.
Ủng hộ quan điểm này, lý thuyết triển vọng của Kahneman & Tversky (1979) cho rằng không thể xem nhẹ yếu tố tâm lý khi đưa ra quyết định trong tình huống không chắc chắn, bởi vì mức độ thỏa dụng khi ra quyết định có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý chứ không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 chỉ đơn thuần liên quan đến sự giàu có. Các nghiên cứu trên cho thấy, các quyết định trên TTCK có thể bị ảnh hưởng bởi những tâm trạng không liên quan. Tuy nhiên, các nghiên cứu khai thác chủ đề này trên TTCK Việt Nam là rất ít, và điều này cũng thể hiện tính cấp thiết của luận án. Mục tiêu của luận án là xác định sự tồn tại của các yếu tố dường như không liên quan đến chứng khoán (như hiệu ứng kỳ nghỉ, thời tiết, lịch âm) đến tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó đưa ra các khuyến nghị.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Trong đời sống của người Việt Nam đang sử dụng song song cả lịch dương và lịch âm.
Lịch dương thường được sử dụng cho các công việc thường nhật, phong tục thờ cúng tổ tiên vào những ngày đầu và giữa tháng âm lịch là nét văn hóa truyền thống lâu đời của người Việt Nam vẫn còn được gìn giữ và thực hiện phổ biến nhất cho đến ngày nay. Hai nghiên cứu của Nguyễn Hồi Loan (2006), Nguyễn Hồi Loan & Nguyễn Thị Hải Yến (2008) đã chỉ ra có 90,3% số người được hỏi cho rằng thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của gia đình, hơn 70,1% số người buôn bán, kinh doanh cho rằng có tồn tại một thế giới dành cho linh hồn của con người sau khi chết, 85,7% số người có trình độ Sau Đại học tham gia khảo sát tin rằng linh hồn tổ tiên nghe được và hiểu được lời cầu khấn của con cháu. Bên cạnh đó, với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” các quốc gia theo phong tục Á Đông cho rằng tháng Bảy âm lịch là tháng xui xẻo, do đó, cách hành xử của người dân trong tháng này thể hiện rất rõ. Tâm lý né tránh không thực hiện những việc quan trọng vào tháng Bảy âm lịch như các quyết định về cưới hỏi (Lo, 2003), sinh con (Huang & cộng sự, 1997; Lin và cộng sự, 2006), đi du lịch (Rittichainuwat, 2011), hay cả đến quyết định đầu tư hoặc liên quan đến các tài sản lớn (Pooja, 2016).
Tại các quốc gia phương Tây, các nghiên cứu cho thấy sự chuyển động của mặt trăng quanh trái đất theo tính chu kỳ có ảnh hưởng đến sức khỏe (Criss & Marcum, 1981; Jongbloet, 1983; Law, 1986; Cajochen & cộng sự, 2013; Smith, Croy & Waye 2014) và hành vi (Cunningham, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 1979) của con người, xảy ra cả ở trẻ em (Russell & Bernal, 1977) và người trưởng thành (Lieber, 1978). Kết quả từ những nghiên cứu này cho thấy chu kỳ lịch âm có khả năng ảnh hưởng đến cả tâm sinh lý, sức khỏe và hành vi của con người. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về ảnh hưởng liên quan đến chu kỳ lịch âm và đặc biệt là tháng Bảy âm lịch đến TSSL của TTCK Việt Nam còn khá ít. Do đó, luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu ứng lịch âm- kết hợp cả chu kỳ lịch âm và liên quan đến tháng Bảy âm lịch- đến TSSL của TTCK tại Việt Nam.
Thời tiết ảnh hưởng đến cả tâm trạng và hành vi xã hội của mỗi người (Campbell & Beets, 1977) bởi khoảng một phần ba dân số nhạy cảm với những thay đổi của thời tiết (Kals, 1982). Saunders (1993) là người đầu tiên liên kết hành vi đầu tư chứng khoán với điều kiện thời tiết. Tập trung vào thành phố New York trong giai đoạn 1927-1989, ông cho thấy độ che phủ mây ít hơn có liên quan đến lợi nhuận cao hơn, và tỷ suất sinh lời (TSSL) giữa những ngày nhiều mây nhất và những ngày có ít mây nhất có ý nghĩa thống kê. Các kết quả cho thấy tâm trạng nhà đầu tư tích cực hay lạc quan vào những ngày nắng, làm tăng lợi nhuận của thị trường chứng khoán, và tâm trạng bi quan của họ vào những ngày nhiều mây làm giảm lợi nhuận của cổ phiếu.
Tiếp nối ý tưởng của Saunders (1993), các nghiên cứu về ảnh hưởng của thời tiết đến TSSL chứng khoán đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác (Cao & Wei, 2005; Floros, 2008). Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả, Lại Cao Mai Phương (2016, 2017) nghiên cứu ảnh hưởng của biến động địa từ đến TSSL của VNIndex, các nghiên cứu khác chưa xác định được mối liên hệ giữa các biến thời tiết với TSSL của TTCK Việt Nam. Chính vì vậy, luận án mở rộng nghiên cứu tác động của nhiều yếu tố trong hiệu ứng thời tiết có thể ảnh hưởng đến TSSL chứng khoán Việt Nam ở cả hai chỉ số VNIndex, HNXIndex và chỉ số ngành. Một trong những bất thường trong nhiều thập kỷ qua mà các nhà kinh tế theo trường phái truyền thống vẫn chưa có lý giải thỏa đáng cho TSSL chứng khoán vào những ngày trước kỳ nghỉ lễ.
Nghiên cứu đầu tiên liên quan đến hiệu ứng liên quan đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 tính mùa vụ nói chung và hiệu ứng kỳ nghỉ lễ nói riêng trên TTCK được Fields được công bố vào đầu những năm 1930, khi đó TTCK Mỹ vẫn còn giao dịch vào ngày thứ Bảy. Sử dụng dữ liệu hàng ngày từ năm 1915-1930 của chỉ số Dow-Jones, Fields đã chứng minh được TSSL của các ngày thứ Bảy cao hơn so với các ngày thứ Sáu và các ngày thứ Hai (Fields, 1931); ngoài ra, trước những ngày nghỉ lễ theo phong tục và và tôn giáo TSSL của cổ phiếu cao hơn so với những ngày bình thường cả về mặt kinh tế và thống kê (Fields, 1934). Sau đó, một số bằng chứng trực tiếp về tâm lý (Farber, 1953; Pecjak, 1970), sinh lý (Venables & Christie, 1974), tâm sinh lý (Rossi & Rossi, 1977), xã hội, hành vi (Froggatt, 1970), xảy ra ở cả nữ (Rossi & Rossi, 1977) và nam (Christie & Venables, 1973; Stone & cộng sự, 1985) của các quốc gia phương Tây đã chứng minh được rằng sự xuất hiện các kỳ nghỉ ngắn có tác động đến tâm trạng nói chung của người dân. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Truong Dong Loc (2012), Trương Đông Lộc & cộng sự (2017) về các kỳ nghỉ lễ đến TSSL VNIndex đều gộp chung các kỳ nghỉ lễ.
Luận án nghiên cứu tác động của từng kỳ nghỉ lễ đến TSSL của TTCK Việt Nam đối với VNIndex, HNXIndex và chỉ số của sáu ngành.3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu của luận án là nghiên cứu “Hiệu ứng kỳ nghỉ, thời tiết, lịch âm đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán Việt Nam” trên cơ sở tiếp cận các lý thuyết liên kết tâm trạng nhà đầu tư với việc ra quyết định chứng khoán và đặc điểm liên quan đến ba hiệu ứng này tại Việt Nam. Dựa vào ý nghĩa thực tiễn, khoảng trống nghiên cứu và những dữ liệu thu thập được trong 10 năm (từ 28/9/2007 đến 29/9/2017), tác giả tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể sau: - Xác định sự tồn tại mối liên hệ của từng hiệu ứng (kỳ nghỉ, thời tiết, lịch âm) và TSSL của TTCK Việt Nam với toàn bộ dữ liệu 10 năm. Những yếu tố đại diện cho từng hiệu ứng này có ảnh hưởng đến TSSL của TTCK Việt Nam hay không? Hướng tác động của các yếu tố này như thế nào- là thuận chiều hay ngược chiều? Những điểm riêng của Việt Nam về mối quan hệ này với các nghiên cứu trước đây? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Xác định sự tồn tại mối liên hệ của cả ba hiệu ứng kỳ nghỉ, thời tiết, lịch âm và TSSL của TTCK Việt Nam với toàn bộ dữ liệu 10 năm và khi xu hướng ngắn hạn của từng chỉ số chứng khoán là tích cực/ tiêu cực. Khi kết hợp cả ba hiệu ứng trong một mô hình tổng hợp, những yếu tố đại diện cho từng hiệu ứng này có tác động đến TSSL của TTCK Việt Nam hay không? Hướng tác động của các yếu tố này đến TSSL chứng khoán Việt Nam trong mô hình tổng hợp ba hiệu ứng so với mô hình từng hiệu ứng riêng lẻ như thế nào- là nhất quán hay có xung đột? Mối liên hệ giữa các hiệu ứng này và TSSL theo ngành được nghiên cứu tại Việt Nam là như thế nào?