Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người liên tục suy giảm và hiện chỉ đạt khoảng 0,07 ha/người, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của khu vực và thế giới. Tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, đất sản xuất nông nghiệp giữ vị trí then chốt đối với sự phát triển kinh tế xã hội khi chiếm tới 74.554,17 ha (tương đương 90,42% tổng diện tích tự nhiên 82.450,14 ha). Khu vực nông thôn tập trung 94,4% dân số của huyện, với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm gần 85% tổng số lao động trong độ tuổi.

Mặc dù giữ vai trò chủ lực, ngành nông nghiệp địa phương đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm 28,2% (5.935 hộ), trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm hơn 50% tổng số hộ nghèo và chiếm tới 57% tổng số hộ dân tộc thiểu số tại chỗ. Nền sản xuất còn nặng tính quảng canh, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thiếu ứng dụng công nghệ cao và chịu tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu trong mùa khô kéo dài 6 tháng.

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2014 – 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bền vững đến năm 2025. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp cơ sở khoa học để tái cơ cấu ngành nông nghiệp trị giá 4.750 tỷ đồng năm 2017, đồng thời nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người từ mốc 33 triệu đồng/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết địa tô và kinh tế đất đai cổ điển kết hợp với khung đánh giá sử dụng đất bền vững của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Đất sản xuất nông nghiệp được nhìn nhận dưới góc độ là tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn tài nguyên có giới hạn. Tính bền vững trong quản lý đất đai được cấu thành từ ba trụ cột chính: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Các khái niệm trọng tâm bao gồm:

  • Đất sản xuất nông nghiệp: Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích trồng trọt, bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm theo quy định của Luật Đất đai 2013.
  • Giá trị sản xuất (GTSX): Toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất được tạo ra trong một chu kỳ canh tác trên một đơn vị diện tích cụ thể.
  • Chi phí trung gian (CPTG): Toàn bộ các khoản chi phí đầu vào về vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống và dịch vụ nông nghiệp phát sinh.
  • Giá trị gia tăng (GTGT): Phần giá trị chênh lệch sau khi lấy giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian (GTGT = GTSX - CPTG).
  • Giá trị trên ngày công lao động quy đổi (GTNCLĐ): Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội và thu nhập thực tế của người lao động trên mỗi ngày công canh tác.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai giai đoạn 2014 – 2017 của UBND huyện Cư M’gar, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk và Niên giám thống kê địa phương.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 120 hộ nông dân. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng tại 2 địa bàn đại diện tiêu biểu: Buôn Sút Mdrang (xã Cư Suê) đại diện cho vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm và Buôn Hring (xã Ea H’đing) đại diện cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số canh tác hỗn hợp cây ngắn ngày và dài ngày. Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện thống kê và phản ánh chân thực đặc điểm của 25 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn.

Phương pháp phân tích kinh tế lượng, so sánh đối chiếu và phân tích chi phí - lợi nhuận được lựa chọn vì tính chính xác trong việc lượng hóa các chỉ số tài chính, giúp phân tách rõ rệt mức độ hiệu quả giữa từng loại hình sử dụng đất. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai từ năm 2017 đến đầu năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất nông nghiệp huyện Cư M’gar chiếm ưu thế tuyệt đối với 74.554,17 ha (90,42% diện tích tự nhiên), trong đó nhóm đất đỏ bazan màu mỡ chiếm 58.338 ha (71% diện tích tự nhiên). Tuy nhiên, có tới 11.476 ha (13,95%) là nhóm đất đỏ vàng trên đá sét và granite nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng và dễ bị thoái hóa tầng mặt.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế có sự phân hóa sâu sắc giữa các loại hình sử dụng đất. Mô hình trồng xen cây ăn quả (sầu riêng, bơ) và hồ tiêu trong vườn cà phê đem lại giá trị sản xuất và giá trị gia tăng cao hơn từ 35% đến 48% so với mô hình thuần cà phê truyền thống. Các mô hình trồng cây hàng năm như lúa nước 2 vụ và ngô lai đạt tỷ suất GTGT/CPTG chỉ từ 1,2 đến 1,5 lần, thấp hơn nhiều so với mức 2,5 đến 3,2 lần của cây công nghiệp dài ngày.

Thứ ba, hiệu quả xã hội và năng suất lao động giữa các nhóm dân tộc có khoảng cách lớn. Tại 2 buôn khảo sát, giá trị ngày công lao động của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ đạt khoảng 58% so với các hộ người Kinh. Tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của các hộ dân tộc thiểu số tại Buôn Sút Mdrang chỉ đạt 31,5% số hộ được khảo sát.

Thứ tư, diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn 7.979,18 ha (độ che phủ 9,68%), làm suy giảm khả năng điều tiết nguồn nước mặt của suối Ea Tul và Ea M’droh, gây thiếu hụt nước tưới trầm trọng trong mùa khô.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của sự chênh lệch hiệu quả bắt nguồn từ tập quán canh tác lạc hậu, lạm dụng phân bón vô cơ khiến độ pH đất giảm xuống mức 4,0 – 5,0, cùng với sự phân bổ lượng mưa không đều khi 85% lượng mưa 1.900 mm/năm tập trung dồn dập vào mùa mưa. So với các địa phương vùng đồng bằng như huyện Kim Sơn (Ninh Bình) hay tỉnh Hải Dương vốn phát huy tốt hệ thống thủy lợi chủ động và dồn điền đổi thửa, huyện Cư M’gar chịu rào cản lớn bởi tình trạng đất đai manh mún và hạn chế hạ tầng tưới tiêu.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng tổng hợp ma trận so sánh các chỉ tiêu kinh tế (GTSX, CPTG, GTGT, tỷ suất GTGT/CPTG) giữa các loại hình canh tác, kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện mức chênh lệch giá trị ngày công lao động giữa các nhóm hộ. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn trong khai thác đất đai và đánh giá đúng tiềm năng gia tăng giá trị.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện công tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tích tụ ruộng đất: UBND huyện Cư M’gar cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, phấn đấu đến năm 2024 đạt tỷ lệ 95% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chuẩn hóa hồ sơ địa chính, tạo tiền đề xây dựng các cánh đồng mẫu lớn.
  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng thủy lợi và giao thông nội đồng: UBND tỉnh Đắk Lắk và huyện Cư M’gar cần đầu tư kiên cố hóa 65 km kênh mương dọc lưu vực suối Ea Tul và suối Ea M’droh, xây mới 15 hồ đập trữ nước vừa và nhỏ trong giai đoạn 2021 – 2025, bảo đảm cung cấp nước tưới chủ động cho trên 80% diện tích cây công nghiệp.
  • Ứng dụng kỹ thuật canh tác bền vững và hữu cơ hóa đất: Trạm Khuyến nông huyện và các Hợp tác xã cần hướng dẫn nông dân tái canh 25.000 ha cà phê già cỗi theo tiêu chuẩn VietGAP, đẩy mạnh mô hình xen canh đa tầng và nâng tỷ lệ sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh lên trên 60% vào năm 2025 nhằm phục hồi độ phì nhiêu của đất.
  • Mở rộng tín dụng ưu đãi và chuỗi liên kết thị trường: Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp cần nâng hạn mức cho vay ưu đãi, bảo đảm trên 80% số hộ nghèo dân tộc thiểu số được tiếp cận vốn. Đồng thời, Phòng Nông nghiệp huyện hỗ trợ xây dựng 10 chuỗi liên kết giá trị gắn kết nông dân với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trong giai đoạn 2021 – 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Cư M’gar): Sử dụng tài liệu để hoạch định quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 – 2030 và xây dựng các chính sách giao đất, hỗ trợ tư liệu sản xuất cho hơn 5.900 hộ nghèo trên địa bàn.
  • Ban quản trị Hợp tác xã và cán bộ khuyến nông: Áp dụng các số liệu thực chứng để định hướng xã viên chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển dịch từ độc canh sang xen canh nhằm tăng tỷ suất GTGT/CPTG lên từ 2,8 đến 3,2 lần.
  • Các tổ chức tài chính vi mô và ngân hàng thương mại: Tham khảo số liệu khảo sát từ 120 hộ thực tế để thiết kế các gói vay trung và dài hạn thích hợp cho 36,4% dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý đất đai: Khai thác khung lý thuyết, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và bộ chỉ tiêu đo lường chuẩn mực để phục vụ các đề tài nghiên cứu về nông nghiệp Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Cư M’gar có đặc điểm gì nổi bật? Quỹ đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao với 74.554,17 ha, tương đương 90,42% tổng diện tích tự nhiên. Huyện sở hữu 58.338 ha đất đỏ bazan màu mỡ (chiếm 71%), rất thích hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm giá trị cao như cà phê, cao su và hồ tiêu.

Vì sao hiệu quả sử dụng đất của các hộ dân tộc thiểu số tại chỗ còn thấp? Nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 57% do phương thức canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống và thiếu vốn đầu tư thâm canh. Khảo sát thực địa cho thấy giá trị ngày công lao động của nhóm này chỉ bằng khoảng 58% so với hộ người Kinh.

Mô hình sử dụng đất nào đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại địa phương? Mô hình trồng xen sầu riêng, hồ tiêu trong vườn cà phê mang lại hiệu quả vượt trội. Mô hình này giúp nâng cao giá trị gia tăng từ 35% đến 48% so với trồng thuần cà phê, đạt tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung gian từ 2,8 đến 3,2 lần.

Điều kiện khí hậu và nguồn nước ảnh hưởng thế nào đến sản xuất nông nghiệp tại huyện? Huyện có lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm nhưng 85% dồn vào mùa mưa, gây xói mòn mạnh trên 11.476 ha đất dốc. Mùa khô kéo dài 6 tháng làm suy kiệt dòng chảy suối Ea Tul, khiến nhiều diện tích cây trồng thiếu nước tưới nghiêm trọng và làm giảm 20% đến 30% năng suất.

Giải pháp đột phá nào giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững tại Cư M’gar? Giải pháp đột phá là kết hợp tái canh 25.000 ha cà phê già cỗi bằng giống mới với việc kiên cố hóa 65 km kênh mương thủy lợi. Đồng thời, địa phương cần thiết lập 10 chuỗi liên kết bao tiêu nông sản và hỗ trợ vốn vay cho hơn 80% hộ nghèo.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại vùng đất đỏ bazan Tây Nguyên.
  • Phân tích sâu sắc hiện trạng khai thác 74.554,17 ha đất nông nghiệp huyện Cư M’gar giai đoạn 2014 – 2017 với các dữ liệu thực chứng tin cậy.
  • Làm rõ nguyên nhân dẫn đến khoảng cách năng suất lao động giữa các nhóm dân tộc và tỷ lệ hộ nghèo 28,2% tại địa phương.
  • Chứng minh tính ưu việt của mô hình xen canh đa tầng, giúp gia tăng giá trị sản xuất thêm 35% đến 48% so với độc canh.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình thực hiện cụ thể từ năm 2020 đến năm 2025.

Công trình là tài liệu khoa học giá trị, cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên đất tại tỉnh Đắk Lắk. Trong lộ trình 2021 – 2025, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan cần khẩn trương số hóa hồ sơ đất đai và triển khai các dự án thủy lợi trọng điểm. Hãy ứng dụng ngay các phát hiện và khuyến nghị từ nghiên cứu này để xây dựng nền nông nghiệp Cư M’gar phát triển thịnh vượng và bền vững.