Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng đánh giá kết quả điều trị mụn trứng cá thông thường bằng phương pháp ipl kết hợp ánh sáng xanh và bôi fob 10 lotion tại bệnh viện trường đại học y dược c

Tài liệu Hiệu quả phương pháp ipl kết hợp ánh sáng xanh trong điều trị mụn trứn tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Chuyên ngành

Da Liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2020

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm nang lông, tuyến bã

1.2. Công nghệ IPL

1.3. Liệu pháp ánh sáng trong trị liệu mụn trứng cá

1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng mụn trứng cá

3.3. Kết quả điều trị mụn trứng cá bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh và bôi FOB-10 Lotion

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng của mụn trứng cá

4.3. Kết quả điều trị mụn trứng cá bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh và bôi FOB-10 Lotion

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ TRỨNG CÁ IPL

PHỤ LỤC 2: PHIẾU THU THẬP DỮ LIỆU

PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hiệu quả phương pháp IPL điều trị mụn

Mụn trứng cá là một trong những vấn đề da liễu phổ biến nhất, ảnh hưởng đến nhiều người, đặc biệt là thanh thiếu niên. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh trong điều trị mụn trứng cá. Phương pháp này không chỉ giúp giảm mụn mà còn cải thiện tình trạng da tổng thể. Việc áp dụng công nghệ hiện đại như IPL trong điều trị mụn trứng cá đang trở thành xu hướng mới trong ngành da liễu.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của mụn trứng cá

Mụn trứng cá thường xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như nhân trứng cá, sẩn viêm, và mụn mủ. Đặc điểm lâm sàng này có thể thay đổi tùy theo độ tuổi và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

1.2. Tình hình nghiên cứu về IPL và ánh sáng xanh

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh có thể mang lại hiệu quả cao trong việc điều trị mụn trứng cá. Các nghiên cứu này đã chứng minh rằng ánh sáng xanh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn gây mụn, đồng thời giảm viêm và cải thiện tình trạng da.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị mụn trứng cá

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị mụn trứng cá, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc đạt được kết quả tối ưu. Các yếu tố như di truyền, hormone, và môi trường có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp là rất quan trọng để giảm thiểu tình trạng mụn và ngăn ngừa tái phát.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị

Các yếu tố như hormone, chế độ ăn uống, và thói quen sinh hoạt có thể tác động lớn đến tình trạng mụn. Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

2.2. Tác động tâm lý của mụn trứng cá

Mụn trứng cá không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động đến tâm lý của người bệnh. Nhiều người cảm thấy tự ti, lo lắng và thiếu tự tin khi có mụn, điều này cần được chú ý trong quá trình điều trị.

III. Phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh trong điều trị mụn

Phương pháp IPL (Intense Pulsed Light) kết hợp ánh sáng xanh đã được chứng minh là hiệu quả trong việc điều trị mụn trứng cá. IPL hoạt động bằng cách phát ra ánh sáng cường độ cao, giúp tiêu diệt vi khuẩn và giảm viêm. Ánh sáng xanh có tác dụng đặc biệt trong việc tiêu diệt vi khuẩn P.acnes, nguyên nhân chính gây ra mụn.

3.1. Cơ chế hoạt động của phương pháp IPL

Phương pháp IPL hoạt động dựa trên nguyên lý phát ra ánh sáng với nhiều bước sóng khác nhau, giúp tác động sâu vào da, tiêu diệt vi khuẩn và làm giảm tình trạng viêm nhiễm.

3.2. Lợi ích của ánh sáng xanh trong điều trị mụn

Ánh sáng xanh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn gây mụn, đồng thời giúp làm dịu da và giảm viêm. Việc kết hợp ánh sáng xanh với IPL mang lại hiệu quả điều trị cao hơn so với các phương pháp truyền thống.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả điều trị mụn bằng IPL

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ cho thấy phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh mang lại kết quả khả quan trong điều trị mụn trứng cá. Tỷ lệ bệnh nhân đạt được sự cải thiện rõ rệt sau liệu trình điều trị là rất cao, cho thấy tính hiệu quả của phương pháp này.

4.1. Tỷ lệ cải thiện lâm sàng sau điều trị

Kết quả cho thấy có đến 80% bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng mụn sau 4-6 tuần điều trị bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh.

4.2. Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân

Phần lớn bệnh nhân đều hài lòng với kết quả điều trị, cho rằng phương pháp này không chỉ giúp giảm mụn mà còn cải thiện tình trạng da tổng thể.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của phương pháp IPL

Phương pháp IPL kết hợp ánh sáng xanh đã chứng minh được hiệu quả trong điều trị mụn trứng cá. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng công nghệ cao vào điều trị các vấn đề da liễu. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa phương pháp này và mở rộng ứng dụng trong điều trị các loại mụn khác.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định hiệu quả lâu dài của phương pháp IPL trong điều trị mụn trứng cá và các vấn đề da liễu khác.

5.2. Ứng dụng công nghệ mới trong điều trị mụn

Việc áp dụng các công nghệ mới như laser và ánh sáng trong điều trị mụn sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm nang lông, tuyến bã 1. Đặc điểm nang lông Nang lông: là biến dạng keratin của thượng bì và là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cận với tuyến bã. Cấu tạo bao gồm chất cơ bản, sợi lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài và gai lông (Hình 1.

Màu sắc của sợi lông do tế bào sắc tố trong chất căn bản quyết định. Ở người có 2 loại: - Nang lông tơ: nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân. Nang lông tơ có kích thước nhỏ hơn nang lông dài [2], [19]. - Nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu [2].

Mỗi nang lông gồm có 3 thành phần: miệng nang lông đổ ra mặt da, cổ nang lông (phễu nang lông) có miệng tuyến bã thông ra ngoài và bao nang lông là phần dài nhất xuyên xuống hạ bì [2], [52], [71]. Đặc điểm tuyến bã Tuyến bã: là tuyến ngoại tiết nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mở ra da giúp da mềm mại chống thấm nước, chống khô da [2]. Tuyến bã là chùm nang chia nhiều thùy, nang tuyến có đường kính từ 0,2- 2mm. Tế bào tuyến gồm: ngoài cùng là tế bào trẻ giống tế bào lớp căn bản có khả năng phân chia, kế đến là lớp tế bào chứa hạt mỡ, trong cùng là lớp tế bào chứa đầy hạt mỡ làm căng vỡ tế bào chảy ra ngoài thành chất bã.

Có 2 loại: - Tuyến bã nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu, chất bã được bài xuất qua các ống ngắn đến nang lông, cổ nang lông rồi ra ngoài [2]. - Tuyến bã nang lông tơ: nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân, kích thước lớn hơn tuyến bã nang lông dài [2, 52]. Hoạt động của tuyến bã chịu tác động rất lớn của hormon (nhất là hormon sinh dục nam) và một số yếu tố khác như di truyền, kích thích. Hoạt động mạnh 4 lúc mới sinh do Androgen của mẹ truyền qua, sau đó gần như bất hoạt ở 2-6 tuổi, hoạt động trở lại từ 7 tuổi, phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, giảm tiết ở tuổi 60-70 đối với nam và 50 đối với nữ, bài tiết nhiều chất bã nhất là cuối giờ sáng và đầu giờ chiều, giảm tiết chất bã nhất vào cuối giờ chiều và tối [2], [71].

Chất bã được sản xuất chủ yếu từ tuyến bã và một phần từ thượng bì, là chất vô khuẩn thành phần chủ yếu là acid béo dạng este, được tiết ra lên trên bề mặt da, có tác dụng giữ độ ẩm, chống mất nước, góp phần chống lại vi khuẩn, virus, nấm. Chất bã đổ vào nang lông rồi bài xuất lên mặt da, riêng ở miệng (hạt Fordyce) và rãnh quy đầu (tuyến Tyson) bài tiết trực tiếp lên niêm mạc [2]. Số lượng tuyến bã trên da: cứ 1cm2 da ở mặt, ngực, lưng có từ 400-900 tuyến bã, các vùng còn lại khoảng 100 tuyến/cm2, vì vậy trứng cá thường xuất hiện ở mặt, ngực, lưng nhiều hơn so với vùng da khác [2], [52], [71]. Khái niệm Mụn trứng cá là một bệnh da thông thường rất hay gặp đặc biệt ở tuổi thanh thiếu niên, biểu hiện là tình trạng viêm tại đơn vị nang lông tuyến bã với nhiều hình thái tổn thương khác nhau như: cục, sẩn, nhân, mụn mủ, nang trứng cá.

Bệnh tiến triển dai dẳng, từng đợt, nếu không được điều trị kịp thời, phù hợp có thể để lại hậu quả sẹo lõm, sẹo lồi, sẹo quá phát làm ảnh hưởng tới thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [12], [13], [72]. Căn sinh bệnh học Cơ chế bệnh sinh rất phức tạp có nhiều nguyên nhân và yếu tố liên quan nhưng có 3 nguyên nhân chính là tăng tiết chất bã, dày sừng cổ nang lông vai trò của vi khuẩn Propionibacterium acne (P. - Sự tăng tiết chất bã nhờn: Trong mụn trứng cá, chất bã bài tiết quá mức. Hoạt động bài tiết này có liên quan chặt chẽ với bất thường nội tiết tố nhất là cường Androgen trong máu 5 đặc biệt hormon sinh dục nam testosteron.

Dehydroepiandrosteron (DHEA) dưới tác động của enzyme 3β-HSD (3β-hydroxysteroid dehydrogenase) và enzyme 17β-hydrydroxysteroid dehydrogenase biến đổi thành testosterone, làm phát triển, dãn rộng, tăng thể tích tuyến bã, kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn tới sự bài tiết chất bã tăng lên. Sự bài tiết chất bã còn chịu sự tác động của một số yếu tố: di truyền, stress, thời tiết. Ở phụ nữ, cường androgen có thể kết hợp với nhiều tình trạng khác thường gặp nhất là hội chứng buồng trứng đa nang [12], [39], [73]. - Rối loạn sừng hóa cổ nang lông tuyến bã: Quá trình sừng hóa cổ nang lông tuyến bã chịu nhiều tác động và ảnh hưởng của một số yếu tố: Dihydrotestosteron, Interleukine-1α kích thích tế bào sừng ở cổ nang lông tăng sinh, acid linoleic giảm làm tăng sinh tế bào sừng cổ nang lông và sản xuất chất tiền viêm.

Sự hiện diện của interleukin-1α và các cytokin khác làm cho quá trình sừng hóa ở cổ nang lông tuyến bã với nhịp độ luân chuyển tế bào tăng, tạo ra khối sừng ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên mặt da, thậm chí bít tắc hoàn toàn. Ở đáy phễu nang lông, chất sừng trở nên đông đặc hơn. Kết quả tuyến bã dãn rộng, chứa đầy chất bã dẫn tới hình thành nhân trứng cá. Ngoài ra, acid béo tự do tăng kích thích làm tăng sự sừng hóa và gây xơ hóa cổ tuyến bã.

- Vai trò của vi sinh P.acnes còn gọi là Corynebacterrium acnes là một loại trực khuẩn Gram dương yếm khí và hiếu khí nhẹ cư trú ở nang lông tuyến bã có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá, được phân thành 2 nhóm: P.acnes và Propionibaterium Grannulosum. Bình thường trong độ tuổi từ 11- 14 và 16-20 không tìm thấy P.acnes ở những người không bị trứng cá. Ngược lại, ở những bệnh nhân trứng cá trung bình có khoảng 114. Ngoài ra còn thấy một số nấm men Pityrosporum ovale ở nang tuyến bã [12].acnes phân hủy lipid, giải phóng acid béo tự do gây viêm giải phóng nhiều cytokine tiền viêm như IL-1, IL-8, IL-12 và TNF-α.

Đồng thời, các acid béo này cũng có khả năng kích thích P.acnes phát triển nhanh [12]. Qua thực nghiệm và thực tế lâm sàng, các nhà nghiên cứu nhận thấy chất bã bị ứ đọng là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các vi khuẩn ở phần dưới cổ nang lông tuyến bã: P.acnes, Propiobacterium grannulosum, S.albus, Streptococcus epidermidis và nấm Pityrosporum ovale, tiết ra men hyaluronidase, protease, lipase có khả năng gây viêm. Bạch cầu sẽ giải phóng hydrolase thấm vào thành làm yếu thành nang lông gây viêm và vỡ cùng nhân trứng cá vào lớp trung bì. Như vậy, trên một thể trạng nhất định có tăng sản xuất chất bã dưới tác động của nhiều yếu tố (testosteron, tuổi, môi trường), kết hợp bị sừng hoá cổ nang lông tuyến bã làm cho chất bã bị ứ trệ trong lòng tuyến tạo nên nhân trứng cá và điều kiện để các vi khuẩn trên da mà điển hình là P.acnes phát triển phân huỷ chất bã tạo ra nhiều acid béo tự do là nguyên nhân chính gây viêm tấy thành tuyến bã và lan tràn ra xung quanh tạo nên các sẩn viêm, mụn mủ.

- Mất cân bằng nội tiết tố + Hàm lượng Estrogen cao: là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến mất cân bằng nội tiết tố, do việc uống thuốc ngừa thai, stress, hàm lượng progesterone trong cơ thể giảm sút và liệu pháp thay đổi nội tiết tố. + Quá trình lão hóa tự nhiên: ở nam giới, do tinh hoàn sản sinh ra lượng testosterone thấp mà hàm lượng estrogen lại tăng lên, khiến cho xương và cơ bắp bị suy yếu, giảm ham muốn tình dục, cao thể lão hóa dần. + Stress: các nghiên cứu đã cho thấy rằng khi một người bị căng thẳng, hàm lượng progesterone trong cơ thể sẽ bị giảm sút, vì progesterone được sử dụng để tổng hợp chất corticosteroid của tuyến thượng thận giúp bảo vệ cơ thể khỏi chứng căng thẳng. Tuy nhiên, khi bị căng thẳng, cơ thể không sản sinh ra 7 đủ progesterone, khiến tuyến thượng thận kiệt sức làm phá vỡ tỉ lệ cân bằng giữa estrogen và progesterone trong cơ thể.

+ Mỹ phẩm: mỹ phẩm có gốc dầu như là dầu thô, dầu bôi trơn, bột tan, dung dịch sáp, v., có thể gây mất cân bằng nội tiết tố và làm khô da. + Thực phẩm công nghiệp: việc tiêu thụ thực phẩm công nghiệp giàu estrogen do được bổ sung chất steroid estrogen để vỗ béo, có thể làm gia tăng hàm lượng estrogen trong cơ thể, gây mất cân bằng nội tiết tố. + Chứng rối loạn ăn uống: chứng cuồng ăn vô độ có lượng estrogen và DHEA trong cơ thể bị giảm sút, dẫn đến mất cân bằng nội tiết tố. + Độc tố từ môi trường: thuốc trừ sâu, nước sơn, thuốc diệt cỏ,.

+ Tác động của hormone đối với mụn trứng cá: những người có da nhờn và bị mụn trứng cá mãn tính kéo dài có chứa một loại enzyme đặc biệt dưới da có tác dụng chuyển đổi testosterone thành một hình thức mạnh hơn gọi là dihydrotestosterone. 8 Vi nhân trứng cá - Tích tụ tế bào. Mụn mủ/sẩn viêm Nốt - Tăng sừng phễu. - Giãn lỗ chân - Phồng to nang - Vỡ thành nang - Kết dính tế bào lồng.

- Viêm quanh nang - Bài tiết chất bã. - Viêm quanh nang lông. lông - Sẹo Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá (Nguồn: Wolff Klaus, Richard A. Johnson, Fitzpatrick’s color atlas and synopsis of clinical dermatology [74]) 1.

Trứng cá thông thường Trứng cá thông thường là thể rất phổ biến ở cả hai giới, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên. Các thương tổn đa dạng: nhân trứng cá, sần, sẩn mụn, mụn mủ, u viêm tấy, áp xe…, gặp ở vùng da dầu gồm mặt, ngực, lưng, vai [12], [19]. Trứng cá đỏ Trứng cá đỏ thường gặp ở người da trắng từ 30-50 tuổi, đa số gặp ở nữ, nhất là người có cơ địa da dầu, những người sử dụng thuốc bôi có corticoid. Vị trí tổn thương ở vùng mặt, mũi, xung quanh miệng.

Nguyên nhân thường có vai trò của Propionibacterium acnes và Demodex folliculorum [12], [19], [73]. Trứng cá mạch lươn Gặp chủ yếu ở nam giới tuổi dậy thì và kéo dài về sau. Vị trí tổn thương ở ngực, mặt, lưng, vai và cổ, bắt đầu bằng mụn mủ ở nang lông, các ổ mụn to dần 9 đi vằn vèo thành hang hốc. Bệnh tiến triển dai dẳng và khó chữa [19], [73].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ