Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm nang lông, tuyến bã 1. Đặc điểm nang lông Nang lông: là biến dạng keratin của thượng bì và là phần lõm sâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cận với tuyến bã. Cấu tạo bao gồm chất cơ bản, sợi lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài và gai lông (Hình 1.
Màu sắc của sợi lông do tế bào sắc tố trong chất căn bản quyết định. Ở người có 2 loại: - Nang lông tơ: nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân. Nang lông tơ có kích thước nhỏ hơn nang lông dài [2], [19]. - Nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu [2].
Mỗi nang lông gồm có 3 thành phần: miệng nang lông đổ ra mặt da, cổ nang lông (phễu nang lông) có miệng tuyến bã thông ra ngoài và bao nang lông là phần dài nhất xuyên xuống hạ bì [2], [52], [71]. Đặc điểm tuyến bã Tuyến bã: là tuyến ngoại tiết nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mở ra da giúp da mềm mại chống thấm nước, chống khô da [2]. Tuyến bã là chùm nang chia nhiều thùy, nang tuyến có đường kính từ 0,2- 2mm. Tế bào tuyến gồm: ngoài cùng là tế bào trẻ giống tế bào lớp căn bản có khả năng phân chia, kế đến là lớp tế bào chứa hạt mỡ, trong cùng là lớp tế bào chứa đầy hạt mỡ làm căng vỡ tế bào chảy ra ngoài thành chất bã.
Có 2 loại: - Tuyến bã nang lông dài: có ở da đầu, râu, lông nách, lông mu, chất bã được bài xuất qua các ống ngắn đến nang lông, cổ nang lông rồi ra ngoài [2]. - Tuyến bã nang lông tơ: nằm rải rác trên toàn bộ da của cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân, kích thước lớn hơn tuyến bã nang lông dài [2, 52]. Hoạt động của tuyến bã chịu tác động rất lớn của hormon (nhất là hormon sinh dục nam) và một số yếu tố khác như di truyền, kích thích. Hoạt động mạnh 4 lúc mới sinh do Androgen của mẹ truyền qua, sau đó gần như bất hoạt ở 2-6 tuổi, hoạt động trở lại từ 7 tuổi, phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, giảm tiết ở tuổi 60-70 đối với nam và 50 đối với nữ, bài tiết nhiều chất bã nhất là cuối giờ sáng và đầu giờ chiều, giảm tiết chất bã nhất vào cuối giờ chiều và tối [2], [71].
Chất bã được sản xuất chủ yếu từ tuyến bã và một phần từ thượng bì, là chất vô khuẩn thành phần chủ yếu là acid béo dạng este, được tiết ra lên trên bề mặt da, có tác dụng giữ độ ẩm, chống mất nước, góp phần chống lại vi khuẩn, virus, nấm. Chất bã đổ vào nang lông rồi bài xuất lên mặt da, riêng ở miệng (hạt Fordyce) và rãnh quy đầu (tuyến Tyson) bài tiết trực tiếp lên niêm mạc [2]. Số lượng tuyến bã trên da: cứ 1cm2 da ở mặt, ngực, lưng có từ 400-900 tuyến bã, các vùng còn lại khoảng 100 tuyến/cm2, vì vậy trứng cá thường xuất hiện ở mặt, ngực, lưng nhiều hơn so với vùng da khác [2], [52], [71]. Khái niệm Mụn trứng cá là một bệnh da thông thường rất hay gặp đặc biệt ở tuổi thanh thiếu niên, biểu hiện là tình trạng viêm tại đơn vị nang lông tuyến bã với nhiều hình thái tổn thương khác nhau như: cục, sẩn, nhân, mụn mủ, nang trứng cá.
Bệnh tiến triển dai dẳng, từng đợt, nếu không được điều trị kịp thời, phù hợp có thể để lại hậu quả sẹo lõm, sẹo lồi, sẹo quá phát làm ảnh hưởng tới thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [12], [13], [72]. Căn sinh bệnh học Cơ chế bệnh sinh rất phức tạp có nhiều nguyên nhân và yếu tố liên quan nhưng có 3 nguyên nhân chính là tăng tiết chất bã, dày sừng cổ nang lông vai trò của vi khuẩn Propionibacterium acne (P. - Sự tăng tiết chất bã nhờn: Trong mụn trứng cá, chất bã bài tiết quá mức. Hoạt động bài tiết này có liên quan chặt chẽ với bất thường nội tiết tố nhất là cường Androgen trong máu 5 đặc biệt hormon sinh dục nam testosteron.
Dehydroepiandrosteron (DHEA) dưới tác động của enzyme 3β-HSD (3β-hydroxysteroid dehydrogenase) và enzyme 17β-hydrydroxysteroid dehydrogenase biến đổi thành testosterone, làm phát triển, dãn rộng, tăng thể tích tuyến bã, kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn tới sự bài tiết chất bã tăng lên. Sự bài tiết chất bã còn chịu sự tác động của một số yếu tố: di truyền, stress, thời tiết. Ở phụ nữ, cường androgen có thể kết hợp với nhiều tình trạng khác thường gặp nhất là hội chứng buồng trứng đa nang [12], [39], [73]. - Rối loạn sừng hóa cổ nang lông tuyến bã: Quá trình sừng hóa cổ nang lông tuyến bã chịu nhiều tác động và ảnh hưởng của một số yếu tố: Dihydrotestosteron, Interleukine-1α kích thích tế bào sừng ở cổ nang lông tăng sinh, acid linoleic giảm làm tăng sinh tế bào sừng cổ nang lông và sản xuất chất tiền viêm.
Sự hiện diện của interleukin-1α và các cytokin khác làm cho quá trình sừng hóa ở cổ nang lông tuyến bã với nhịp độ luân chuyển tế bào tăng, tạo ra khối sừng ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên mặt da, thậm chí bít tắc hoàn toàn. Ở đáy phễu nang lông, chất sừng trở nên đông đặc hơn. Kết quả tuyến bã dãn rộng, chứa đầy chất bã dẫn tới hình thành nhân trứng cá. Ngoài ra, acid béo tự do tăng kích thích làm tăng sự sừng hóa và gây xơ hóa cổ tuyến bã.
- Vai trò của vi sinh P.acnes còn gọi là Corynebacterrium acnes là một loại trực khuẩn Gram dương yếm khí và hiếu khí nhẹ cư trú ở nang lông tuyến bã có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá, được phân thành 2 nhóm: P.acnes và Propionibaterium Grannulosum. Bình thường trong độ tuổi từ 11- 14 và 16-20 không tìm thấy P.acnes ở những người không bị trứng cá. Ngược lại, ở những bệnh nhân trứng cá trung bình có khoảng 114. Ngoài ra còn thấy một số nấm men Pityrosporum ovale ở nang tuyến bã [12].acnes phân hủy lipid, giải phóng acid béo tự do gây viêm giải phóng nhiều cytokine tiền viêm như IL-1, IL-8, IL-12 và TNF-α.
Đồng thời, các acid béo này cũng có khả năng kích thích P.acnes phát triển nhanh [12]. Qua thực nghiệm và thực tế lâm sàng, các nhà nghiên cứu nhận thấy chất bã bị ứ đọng là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các vi khuẩn ở phần dưới cổ nang lông tuyến bã: P.acnes, Propiobacterium grannulosum, S.albus, Streptococcus epidermidis và nấm Pityrosporum ovale, tiết ra men hyaluronidase, protease, lipase có khả năng gây viêm. Bạch cầu sẽ giải phóng hydrolase thấm vào thành làm yếu thành nang lông gây viêm và vỡ cùng nhân trứng cá vào lớp trung bì. Như vậy, trên một thể trạng nhất định có tăng sản xuất chất bã dưới tác động của nhiều yếu tố (testosteron, tuổi, môi trường), kết hợp bị sừng hoá cổ nang lông tuyến bã làm cho chất bã bị ứ trệ trong lòng tuyến tạo nên nhân trứng cá và điều kiện để các vi khuẩn trên da mà điển hình là P.acnes phát triển phân huỷ chất bã tạo ra nhiều acid béo tự do là nguyên nhân chính gây viêm tấy thành tuyến bã và lan tràn ra xung quanh tạo nên các sẩn viêm, mụn mủ.
- Mất cân bằng nội tiết tố + Hàm lượng Estrogen cao: là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến mất cân bằng nội tiết tố, do việc uống thuốc ngừa thai, stress, hàm lượng progesterone trong cơ thể giảm sút và liệu pháp thay đổi nội tiết tố. + Quá trình lão hóa tự nhiên: ở nam giới, do tinh hoàn sản sinh ra lượng testosterone thấp mà hàm lượng estrogen lại tăng lên, khiến cho xương và cơ bắp bị suy yếu, giảm ham muốn tình dục, cao thể lão hóa dần. + Stress: các nghiên cứu đã cho thấy rằng khi một người bị căng thẳng, hàm lượng progesterone trong cơ thể sẽ bị giảm sút, vì progesterone được sử dụng để tổng hợp chất corticosteroid của tuyến thượng thận giúp bảo vệ cơ thể khỏi chứng căng thẳng. Tuy nhiên, khi bị căng thẳng, cơ thể không sản sinh ra 7 đủ progesterone, khiến tuyến thượng thận kiệt sức làm phá vỡ tỉ lệ cân bằng giữa estrogen và progesterone trong cơ thể.
+ Mỹ phẩm: mỹ phẩm có gốc dầu như là dầu thô, dầu bôi trơn, bột tan, dung dịch sáp, v., có thể gây mất cân bằng nội tiết tố và làm khô da. + Thực phẩm công nghiệp: việc tiêu thụ thực phẩm công nghiệp giàu estrogen do được bổ sung chất steroid estrogen để vỗ béo, có thể làm gia tăng hàm lượng estrogen trong cơ thể, gây mất cân bằng nội tiết tố. + Chứng rối loạn ăn uống: chứng cuồng ăn vô độ có lượng estrogen và DHEA trong cơ thể bị giảm sút, dẫn đến mất cân bằng nội tiết tố. + Độc tố từ môi trường: thuốc trừ sâu, nước sơn, thuốc diệt cỏ,.
+ Tác động của hormone đối với mụn trứng cá: những người có da nhờn và bị mụn trứng cá mãn tính kéo dài có chứa một loại enzyme đặc biệt dưới da có tác dụng chuyển đổi testosterone thành một hình thức mạnh hơn gọi là dihydrotestosterone. 8 Vi nhân trứng cá - Tích tụ tế bào. Mụn mủ/sẩn viêm Nốt - Tăng sừng phễu. - Giãn lỗ chân - Phồng to nang - Vỡ thành nang - Kết dính tế bào lồng.
- Viêm quanh nang - Bài tiết chất bã. - Viêm quanh nang lông. lông - Sẹo Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá (Nguồn: Wolff Klaus, Richard A. Johnson, Fitzpatrick’s color atlas and synopsis of clinical dermatology [74]) 1.
Trứng cá thông thường Trứng cá thông thường là thể rất phổ biến ở cả hai giới, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên. Các thương tổn đa dạng: nhân trứng cá, sần, sẩn mụn, mụn mủ, u viêm tấy, áp xe…, gặp ở vùng da dầu gồm mặt, ngực, lưng, vai [12], [19]. Trứng cá đỏ Trứng cá đỏ thường gặp ở người da trắng từ 30-50 tuổi, đa số gặp ở nữ, nhất là người có cơ địa da dầu, những người sử dụng thuốc bôi có corticoid. Vị trí tổn thương ở vùng mặt, mũi, xung quanh miệng.
Nguyên nhân thường có vai trò của Propionibacterium acnes và Demodex folliculorum [12], [19], [73]. Trứng cá mạch lươn Gặp chủ yếu ở nam giới tuổi dậy thì và kéo dài về sau. Vị trí tổn thương ở ngực, mặt, lưng, vai và cổ, bắt đầu bằng mụn mủ ở nang lông, các ổ mụn to dần 9 đi vằn vèo thành hang hốc. Bệnh tiến triển dai dẳng và khó chữa [19], [73].