MỞ ĐẦU Việt Nam với diện tích hơn 33 vạn km2 tuy thuộc vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chủ yếu là đất nông nghiệp, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu bệnh dịch hạ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với TBVTV phân ón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng n m. Phân ón đã góp phần đáng kể làm t ng n ng suất cây trồng chất lượng nông sản.
Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI) phân ón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng. Tuy nhiên phân ón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đ ng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người gia s c. Ngược lại nếu không được sử dụng đ ng theo quy định phân ón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống. Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, bón phân không hợp lý…đã làm cho chất gây ô nhiễm đặc biệt là hàm lượng kim lọai nặng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ.
Bên cạnh đó phần lớn đất nông nghiệp ở nước ta là đất bạc màu, với đặc tính chua, nghèo kiệt chất dinh dưỡng, dung tích hấp thu thấp, thường khô hạn và chai cứng đất lại dễ bị tác động bởi quá trình xói mòn, rửa trôi. Điều này càng làm suy giảm sức sản xuất của đất, giảm n ng suất cây trồng, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nông sản thậm trí còn ản hưởng đến sức khỏe con người. Do đó cần có những biện pháp cải tạo và xử lý ô nhiễm trong đất. Mỗi n m hàng triệu tấn phân vô cơ (phân hóa học) được người nông dân Việt Nam sử dụng để bón cho cây trồng.
Phân vô cơ có tác dụng tức thì nhưng lại để lại hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe con người nếu bị sử dụng sai phương pháp và làm bạc màu của đất. Phân bón hóa học nếu được sử dụng quá nhiều, không hợp lý lại chính là một trong những tác nhân gây suy thoái môi trường đất. Khi đất đai thoái hóa đồng nghĩa với việc vụ sau phải bón nhiều phân ón hơn phun nhiều 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuốc trừ sâu hơn công sức bỏ ra t ng lên và lợi nhuận giảm đi. Lối thoát cho vấn đề này đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là nền nông nghiệp hữu cơ bền vững với các chế phẩm phân bón hữu cơ phân ón hữu cơ vi sinh.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được lợi ích của việc cung cấp phân hữu cơ gi p gia t ng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, cải thiện tính chất vật lý, hóa và sinh học đất [32, 33, 37]. EarthCare with SumaGrow Inside (viết tắt là SumaGrow) là một chế phẩm vi sinh đã được sử dụng rất thành công tại Mỹ và hơn 40 quốc gia trên khắp thế giới [6], trong khoảng 3 n m trở lại đây mới được ứng dụng tại Việt Nam. Chế phẩm Suma Grow là dạng huyền phù của axit humic hữu cơ (nguồn dinh dưỡng cacbon) có chứa các vi sinh vật hữu ích. Các muối của axit humic (humat) có chứa hàm lượng chất hữu cơ cao và các chất dinh dưỡng thiết yếu khác như Ca Mg Zn và Mn.
Nhóm vi sinh vật hữu ích có trong Suma Grow bao gồm Bacillus sp, Trichoderma sp, Pseudomonas sp, Rhizobium sp, Azotobacter sp và hơn 20 chủng vi sinh vật hữu ích khác. Chế phẩm EarthCare with SumaGrowtm gi p t ng n ng suất cây trồng, giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn nhu cầu sử dụng phân bón hóa học và giúp cây trồng phát triển mà không cần tưới nước nhiều, không cần dung thuốc trừ sâu. Ngoài ra một số tác dụng khác bao gồm t ng mức dinh dưỡng cho cây trồng, đem lại nhiều lợi nhuận cho nông dân, khôi phục các đặc tính sinh học của đất và nguồn nước. Tuy nhiên tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào khả n ng t ng n ng suất cây trồng và chất lượng nông sản để thuyết phục người nông dân sử dụng [6] mà chưa hoặc có rất ít nghiên cứu về sự cải tạo môi trường đất nông nghiệp của loại chế phẩm này.
Do vậy đề tài "Nghiên cứu khả năng sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh EarthCare with SumaGrowtm nhằm cải tạo một số tính chất đất và năng suất cây trồng tại Phủ Cừ, Hưng Yên." được chọn làm đề tài luận v n tốt nghiệp nhằm hướng tới nền nông nghiệp bền vững với mục tiêu nghiên cứu đánh giá sự cải thiện một số tính chất đất và n ng suất cây trồng mà phân bón hữu cơ vi sinh EarthCare with SumaGrowtm mang lại, nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu này một cách hiệu quả, bền vững, tạo điều kiện phát triển vùng nông thôn cũng như cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường đất do thuốc bảo vệ thực vật gây ra. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN I/ Tổng quan về huyện Phủ Cừ, tỉnh Hƣng Yên I. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Huyện Phủ Cừ có diện tích tự nhiên là 94,64 km2. Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 58,51 km2 chiếm 61,8% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện.
Còn lại là đất phi nông nghiệp và đất ở. [16] Phủ Cừ là huyện cực Đông của tỉnh Hưng Yên, nằm trong đồng bằng Bắc Bộ. Phía tây giáp huyện Tiên Lữ, phía tây bắc giáp huyện Ân Thi đều thuộc tỉnh Hưng Yên. Phía đông ắc và phía đông giáp huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương ranh giới chủ yếu là sông Cửu An chi lưu của sông Luộc.
Góc phía đông nam giáp huyện Quỳnh Phụ, còn phía nam giáp huyện Hưng Hà đều của tỉnh Thái Bình, ranh giới là sông Luộc. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Nghĩa Lý một chi lưu khác của sông Luộc, chảy qua. Huyện có 14 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 13 xã. [16] Đặc điểm khí hậu khu nghiên cứu nói riêng và cả vùng nói chung mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh n m với 2 mùa rõ rệt.
Đồng thời hàng n m chịu ảnh hưởng của gió mùa đông ắc và gió mùa Đông Nam. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 có nhiệt độ trung bình 25oC - 26oC cao nhất 31oC, thấp nhất 24oC. Lượng mưa trung ình hằng n m từ 1500 – 2000mm lượng mưa lớn nhất vào tháng 7 và tháng 8: 500 – 600mm, thấp nhất vào tháng 4: 200mm [16]. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 n m sau nhiệt độ trung bình 19oC - 20oC, thấp nhất 7oC mùa này thường ít mưa lượng mưa trung ình 200- 400mm.
[16] Thời tiết mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùa nổi lên. Mùa đông từ tháng 11 tới tháng 3 trời lạnh khô có mưa phùn. Nhiệt độ trung ình hàng n m khoảng 25oC lượng mưa trung ình từ 1 700 đến 2,400mm. [16] 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Kinh tế, xã hội Dân số trung ình n m 2017 của tỉnh Hưng Yên là 1. Trong đó dân số thành thị là 152.115 người chiếm 12,93% tổng dân số; dân số nông thôn 1.184 người, chiếm 87,07% tổng dân số. Dân số trung bình huyện Phủ Cừ là 78 626 người, mật độ 833 ng/km2 [16]. N m 2017 Giá trị sx nông nghiệp toàn huyện đạt 10.631 tỷ đồng (trong đó hoạt động trồng trọt đạt 4.962 tỷ đồng; hoạt động ch n nuôi đạt 5.513 tỷ đồng; hoạt động dịch vụ nông nghiệp đạt 156 tỷ đồng), Chỉ số sản xuất công nghiệp t ng 9 54% tập trung chủ yếu tại thị trấn Trần Cao.
N m 2017 thu ngân sách huyện đạt 12.004 tỷ đồng [7] II/ Ảnh hƣởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tới môi trƣờng đất Cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm môi trường đất do sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) quá mức đang là vấn đề đáng áo động hiện nay, không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thời gian qua, quá trình canh tác, khai thác nguồn tài nguyên này đang ị chính con người lạm dụng đặc biệt là việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn đã làm suy thoái tài nguyên đất. Dẫu biết trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp, phân bón và thuốc BVTV có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao n ng suất, chất lượng cây trồng nhưng hiện nay việc sử dụng phân bón ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết và hạn chế. Đó không chỉ là sự lãng phí lớn lượng phân bón do nông dân lạm dụng quá mức cần thiết mà còn làm t ng chi phí sản xuất và nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người môi trường đất.
Việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV chủ yếu sai phạm về không đảm bảo lượng nước, không có bảo hộ lao động, sử dụng thuốc BVTV không đ ng nồng độ, liều lượng, bao bì sau khi sử dụng vứt bừa bãi không đ ng nơi quy định… Thực tế cho thấy, nhiều nông dân sử dụng phân bón và thuốc BVTV chỉ vì lợi ích trước mắt là làm sao cho cây trồng đạt n ng suất cao mà không quan tâm đến tác hại lâu dài của nó. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay II. Hiện trạng sử dụng phân bón hiện nay a/ Trên thế giới Công nghiệp sản xuất phân ón được ra đời vào cuối thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19, bắt đầu từ vùng tây bắc của châu Âu (IFA, 1998), song chỉ thật sự phát triển mạnh vào những n m 60 của thế kỷ 20 khi mà cuộc cách mạng xanh ra đời.
Việc ứng dụng các giống cây trồng có n ng suất cao và kỹ thuật canh tác mới vào thời điểm đó đã đưa sản lượng lương thực t ng từ 830 triệu tấn lên 1.820 triệu tấn từ 1960 đến 1990.