Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động nhập khẩu và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị vật tư máy móc của công ty TNHH kỹ thuật Quốc tế Thế Long Chương 4: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị vật tư máy móc của công ty TNHH kỹ thuật Quốc tế Thế Long Lý Thị Hơn – K44E3 4 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Thương Mại Quốc tế CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm nhập khẩu Hoạt động thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Hoạt động thương mại quốc tế bao gồm hai lĩnh vực chính đó là kinh doanh xuất khẩu và kinh doanh nhập khẩu. Trong đó hoạt động nhập khẩu có tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất, đời sống trong nước. Nó thể hiện sự phụ thuộc gắn bó nhau nền kinh tế trong nước và thế giới đồng thời bổ sung các hàng hóa mà trong nước khan hiếm hoặc không sản xuất được. Nhập khẩu sẽ khai thác tốt được các lợi thế so sánh của các quốc gia khác nhau.
Khoản 2, điều 28, chương 2 luật thương mại Việt năm 2005" Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam được coi là lĩnh vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật". Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa bản chất đó là việc mua hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa đó tại thị trường trong nước, hoặc tái xuất khẩu sang nước khác với mục đích thu lợi nhuận, đầu tư phát triển sản xuất và kết nối sản xuất với tiêu dùng.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh 2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trước hết, chúng ta tìm hiểu thế nào là hiệu quả kinh doanh. Cho đến nay có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về hiệu quả kinh doanh. Tùy thuộc vào mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp theo nghĩa rộng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp.
Cụ thể thì nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí thấp nhất. Có thể chia hiệu quả kinh doanh thành các nhóm quan điểm như sau: Lý Thị Hơn – K44E3 5 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Thương Mại Quốc tế Quan điểm thứ nhất: Nhà kinh tế học người Anh Adamsimith cho rằng "hiệu quả kinh doanh là kết quả trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa". Ở đây, hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả kinh doanh. như vậy quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất, có nghĩa nếu cùng một mức kết quả mà chi phí cấu thành khác nhau thì theo quan điểm này chúng đều có hiệu quả như nhau.
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh phần tăng thêm của chi phí. Quan niệm này phản ánh được mối quan hệ giữa kết quả và chi phí để đạt được kêt quả đó. Nó gắn được kết quả và chi phí bỏ ra, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên nó lại chỉ xét tới kết quả và chi phí bổ sung.
Quan điểm thứ ba: Theo quan niệm của Manfred Kuln thì hiệu quả kinh doanh được đo bằng kết quả hiệu số giữa kết quả đạt được và hiệu số bỏ ra để đạt được kết quả đó. Ưu điểm của nó là phản ánh mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh đã gắn được hiệu quả với toàn bộ chi phí, coi việc kinh doanh là phản ánh trình độ sử sự các chi phí. Nhưng nó chưa biểu hiện tương quan về chất và lượng, giữa kết quă và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Để phản ánh được tình hình sử dụng thì cần cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả hoặc chi phí bỏ ra.
Nhưng các yếu tố này thì luôn biến động, vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh doanh của một quá trình kinh doanh nào đó phải xem xét trong trạng thái động. Quan điểm thứ tư: theo lý luận của Mac-Lenin thì hiệu quả kinh doanh thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa. Quỹ tiêu dùng với tư cách là chi tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao dời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Song khó khăn là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó. Khái niệm quỹ tiêu dùng được đề cập ở đây là bộ phận của thu nhập quốc dân, bộ phận còn lại là tích lũy từ các quan điểm trên cho thấy hiệu quả kinh doanh theo nghĩa rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Lý Thị Hơn – K44E3 6 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Thương Mại Quốc tế Như vậy, cần phải xác định sự khác nhau và mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả. Bất kỳ hoạt động nào của con người đều mong muốn đạt được những kết quả nhất định.
Tuy nhiên kết quả đó được tạo ra ở mức đọ nào với chi phí là bao nhiêu là vấn đề cần xem xét, vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả. Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của mình. Vì vậy, người ta luôn quan tâm làm sao với khả năng hiện tại có thể tạo ra được nhiều sản phẩm nhất. Vậy nên khi đánh giá hiệu quả kinh doanh tức là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh tạo ra kết quả mà nó đạt được.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh được hiểu là làm cho các chỉ tiêu đo lường hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên thường xuyên và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũng tương tự như hiệu quả kinh doanh chỉ khác nhau ở phạm vi. Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sản xuất trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp trong tát cả các hoạt động của doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, phản ánh trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp trong hoạt động nhập khẩu. Với doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu chỉ có thể đạt được khi thu được kết quả tối đavới chi phí tối thiểu, thể hiện trình độ khả anwng sử dụng các yếu tố cần thiết phục vụ cho quá trình kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Với xã hội: Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu đạt được khi tổng lợi ích xã hội nhận được từ hàng hóa nhập khẩu lớn hơn chi phí bỏ ra để sản xuất những hàng hóa dịch vụ này trong nước nghĩa là hoạt động nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội, tăng chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.2 Một số lý thuyết về nhập khẩu và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu 2.1 Lý thuyết về hoạt động nhập khẩu 2.1 Vai trò của hoạt động nhập khẩu Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế, nhập khẩu có tác dộng trực tiếp tới quá trình sản xuất và đời sống của một quốc gia.
Đối với Lý Thị Hơn – K44E3 7 Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khoa Thương Mại Quốc tế một nền kinh tế hoạt động nhập khẩu gồm hai mục đích: một là bổ sung các hàng hóa trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ nhu cầu; hai là để sản xuất những hàng hóa trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hoạt động nhập khẩu nếu được tổ chức tốt hợp lý với nhu cầu và khả năng sản xuất trong nước sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân mà trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động. Hoạt động nhập khẩu đang ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế đất nước thể hiện ở các vai trò sau: ○ Nhập khẩu làm đa dạng hóa các mặt hàng chủng loại làm thỏa mãn hơn nhu cầu trong nước, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. ○ Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Đối với người tiêu dùng, nhập khẩu mang lại cơ hội tiếp cận hàng hóa đa dạng hiện đại giá thành thấp hơn so với hàng hóa trong nước. Với sản xuất nhập khẩu là nguồn đảm bảo đầu vào cho hoạt động sản xuât, đảm bảo về công nghệ trang thiết bị cho quá trình hiện đại hóa sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động. ○ Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đất nước. ○ Bổ sung những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển cân đối và ổn định.
○ Tạo sựu cạnh tranh giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu, tạo ra động lực cho các nhà nước buộc phải không ngừng vươn lên để cạnh tranh hạn chế các đơn vị sản xuất không hiệu quả. ○ Nhập khẩu xóa bỏ nển kinh tế độc quyền tự cung tự cấp của nền kinh tế phá vỡ chế đọ tự cung tự cấp. ○ Nhập khẩu giải quyết nhu cầu đặc biệt, hàng hóa khan hiếm hoặc có hàm lượng công nghệ cao mà trong nước chưa sản xuất được. ○ Thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước tạo điều kiện kinh tế trong nước hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới.