MỞ ĐẦU Chất thải rắn y tế thường chứa nhiều thành phần nguy hại như mầm bệnh dễ lây nhiễm, các hoá chất độc hại và các vật sắc nhọn nguy hại. Việc xử lý chất thải bệnh viện nói chung và chất thải rắn y tế nguy hại nói riêng đã là một vấn đề cấp bách cần phải quản lý và xử lý an toàn không chỉ tại Việt Nam mà cả thế giới. Theo báo cáo của Bộ y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có 1.087 bệnh viện bao gồm 1.023 bệnh viện nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng số hơn 140.000 giường bệnh.000 trạm y tế xã, hơn chục ngàn cơ sở phòng khám tư nhân. Theo ước tính, trung bình mỗi giường bệnh một ngày phát sinh từ 2,0 đến 2,5 kg chất thải trong đó khoảng từ 10- 25% chất thải nguy hại.
Như vậy, với khoảng trên 140.000 giường bệnh đang hoạt động hết công suất, mỗi ngày có khoảng 280-350 tấn chất thải phát sinh từ các bệnh viện. Theo ước tính của các chuyên gia, đến năm 2010 tổng lượng chất thải rắn phát sinh sẽ là 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 60 - 70 tấn/ngày là chất thải rắn nguy hại phải xử lý. Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn y tế phụ thuộc vào số giường bệnh, tình hình thực hiện các kỹ thuật y tế và sự tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế (khoảng 7,6%/năm). Ước tính đến năm 2015 số lượng chất thải y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày.
Lượng chất thải y tế này, nếu không được xử lý đúng phương pháp sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, đe dọa đến sức khỏe con người trước tiên là những nhân viên y tế, người bệnh [1]. Để xử lý và tiêu huỷ chất thải y tế, mỗi nhóm và loại chất thải có phương pháp riêng. Chất thải rắn trong y tế thường được xử lý bằng phương pháp đốt ở nhiệt độ cao trên 1000oC [36]. Đây chưa phải là phương pháp thân thiện môi trường và an toàn vì trong quá trình đốt, rất nhiều những khí thải, khí độc hại sinh ra làm ô nhiễm môi trường, nhất là nhựa có chứa clo.
Bên cạnh đó, đa phần các vật liệu nhựa dùng cho ngành y tế thường là những loại có chất lượng tốt nên việc đốt toàn bộ chất thải y tế sẽ gây ra sự lãng phí. Các chất thải rắn như bơm tiêm, chai nhựa đựng dịch truyền, dây truyền dịch… nếu được quản lý, phân loại và xử lý ban đầu tốt thì Khoa Môi trường 1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT sẽ trở thành nguyên liệu hữu ích tái chế cho các mục đích sử dụng khác. Làm được điều này sẽ đem lại những lợi ích thiết thực như làm giảm chi phí trong việc xử lý chất thải y tế của các bệnh viện, tiết kiệm được nguyên liệu, giảm ô nhiễm môi trường do chất thải y tế phát sinh từ bệnh viện, góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng dân cư [43]. Bệnh viện Lao phổi Trung ương nằm trên địa bàn Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, đây là khu vực có mật độ dân số cao.
Là bệnh viện chuyên khoa hạng I tuyến cao nhất. Bệnh viện có chức năng khám, chữa bệnh, dự phòng và phục hồi chức năng cho người bệnh thuộc chuyên khoa lao và bệnh phổi ở tuyến cao nhất, giải quyết các kĩ thuật chẩn đoán, điều trị các bệnh lao ngoài phổi từ các tuyến dưới chuyển đến và là tuyến cuối cùng tập trung bệnh nhân điều trị bệnh nặng có nhiều nhiễm trùng cơ hội trong bệnh cảnh nhiễm lao, nấm, HIV, các vi khẩn đường ruột với yếu tố lây nhiễm cao. Bệnh viện có 500 giường bệnh luôn trong tình trạng quá tải, thời gian điều trị đối với bệnh nhân thường kéo dài nên lượng rác thải phát sinh hàng ngày cao, đặc biệt là lượng chất thải lây nhiễm. Trong công tác quản lý chất thải, bệnh viện đã sử dụng công nghệ khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng.
Để có số liệu khoa học xem xét đến hiệu quả cũng như những ưu điểm của công nghệ này với việc khử trùng, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu hiệu quả khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng". Địa điểm nghiên cứu được chọn tại bệnh viện Lao phổi Trung ương với nội dung chủ yếu gồm: 1. Đánh giá thực trạng nhận thức và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Lao phổi Trung ương. Đánh giá hiệu quả khử trùng của công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng đối với chất thải rắn y tế lây nhiễm.
Khoa Môi trường 2 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT CHƢƠNG 1. Định nghĩa và các đặc trƣng của chất thải rắn y tế 1. Định nghĩa chất thải y tế Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, đào tạo về khám chữa bệnh. CTYT lây nhiễm là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, chất phóng xạ.
thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYTLN được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ [2]. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế Căn cứ vào đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, CTRYT được phân thành 5 nhóm sau[2] : 1. Chất thải lây nhiễm: a) Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. d) Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. Khoa Môi trường 3 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT 2.
Chất thải hoá học nguy hại: a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. b) Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế. c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu. d) Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
Chất thải phóng xạ: Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Chất thải chứa khí có áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
Chất thải thông thường: Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại. Khoa Môi trường 4 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Mai – K19 CHMT c) Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
d) Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Các chất thải được thu gom vào các thùng và túi theo màu quy định tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế. - Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm. - Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ.
- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ. - Màu trắng đựng chất thải tái chế. Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 1998 - 1999 thành phần CTYT ở một số bệnh viện Việt Nam gồm: + Chất thải rắn y tế: Giấy các loại, kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa, bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại, bệnh phẩm, rác hữu cơ, đất đá và các vật rắn khác. + Chất thải lỏng bệnh viện: nước thải từ khoa Xét nghiệm, X quang, khoa lâm sàng, cận lâm sàng, bộ phận phục vụ trong bệnh viện và nước mưa.
- Chất thải khí: khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu huỷ CTYT 1. Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại Trong chất thải y tế nguy hại có khả năng chứa đựng tất cả các loại vi sinh vật như: vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng, tụ cầu vàng. Đặc biệt là những VSV có sức đề kháng cao với môi trường như vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn nhiễm trùng bệnh viện, các loại virut đường ruột, virut viêm gan, HIV [3].