Chương 1: Giới thiệu l luận tổng quan về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại và các nghiên cứu trước đó. - Chương 2: Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chương 3: Các đề xuất ứng dụng và hướng nghiên cứu tiếp theo 7. Ý NGHĨA VÀ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ngh a về mặt khoa học cũng như thực tiễn.
Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Bên cạnh đó, đây cũng là một nghiên cứu với mục tiêu kiểm nghiệm lại những kết quả nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của các yếu tố v mô, yếu tố ngành, ngoài ra có xét đến sự tác động của toàn cầu hóa_đây là một điểm mới của đề tài cũng như tìm ra những yếu tố mới cho những nghiên cứu sau này mà đề tài chưa làm được. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là một tham khảo mang tính khoa học giúp các nhà quản trị Ngân hàng đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng của hiệu quả hoạt động nhằm tìm ra những yếu tố tích cực, yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng, từ đó đề ra các giải pháp và chính sách để phát huy yếu tố tích cực, kiểm soát yếu tố tiêu cực, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng để nhà quản trị tránh được những nhận định sai lầm về hiệu quả hoạt động, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển Ngân hàng ngày một lớn mạnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÓ 1.1 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh, đa phần có xu hướng dựa vào tỉ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu (ROE) như là một thước đo chính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều nhà quản l điều hành cũng dựa quá nhiều vào thước đo này, nhận ra rằng đó là một thước đo mà dường như được cộng đồng các nhà đầu tư quan tâm nhất. Mô hình ROE dựa vào tỉ suất lợi nhuận dành cho các cổ đông, đối với một cổ đông, ROE là một thước đo nhanh và dễ hiểu. Nhưng mô hình ROE có thể che lấp khá nhiều vấn đề tiềm ẩn.
Các doanh nghiệp có thể phải dùng đến các chiến lược tài chính để duy trì giả tạo một tỉ suất ROE tốt trong một thời gian và che giấu hiệu quả kinh doanh đang đi xuống. Mức đầu tư dư nợ đang tăng lên và việc mua lại cổ phiếu bằng hỗ trợ từ nguồn tiền mặt tích trữ có thể giúp duy trì tỉ suất ROE của doanh nghiệp thậm chí ngay cả khi mức lợi nhuận hoạt động đang bị giảm sút. Áp lực cạnh tranh đang tăng cao cộng với lãi suất thấp giả tạo, là đặc trưng của vài thập kỷ nay, đã tạo ra động lực có uy lực lớn để gắn kết các chiến lược này nhằm ổn định tâm l của các nhà đầu tư. Mức vay nợ cao trở thành một gánh nặng cho doanh nghiệp trong thời buổi khó khăn.
Nếu mức lợi nhuận tiếp tục suy giảm, thì việc tăng vay nợ hoặc mua lại cổ phiếu nhiều hơn là cần thiết để duy trì ROE cao. Mặt khác việc để cho tỉ suất ROE giảm sẽ ảnh hưởng tức thì đối với thị giá cổ phiếu, gây bất ổn khôn lường cho doanh nghiệp. Có một thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh khác vốn ít nhận được sự quan tâm của các nhà quản l cao cấp và các nhà đầu tư đó là tỉ suất lợi nhuận r ng trên tài sản (ROA. ROA tránh được những bóp méo có thể có do các chiến lược tài chính tạo ra giống như được đề cập ở phần trên.
Đồng thời, ROA là một thước đo tình trạng tài chính tốt hơn so với các cách thức đo lường hiệu quả kinh doanh như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 là tỉ suất lợi nhuận trên doanh số bán hàng, ROE. Rõ ràng là, chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được s dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh. Chỉ số này xác định liệu doanh nghiệp có thể tạo ra một tỉ suất lợi nhuận r ng đủ lớn trên những tài sản của mình hơn là chỉ đơn giản cho thấy tỉ suất lợi nhuận lớn trên doanh số bán hàng. Các doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản cần một mức thu nhập r ng cao hơn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh so với các doanh nghiệp sở hữu ít tài sản.
Theo Naceur and Omran (2010), chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA và lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE đã được s dụng trong hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động Ngân hàng. ROA cho thấy lợi nhuận thu được cho mỗi đồng tài sản và quan trọng nhất nó phản ánh việc quản l khả năng tận dụng nguồn lực tài chính và tài sản thực của Ngân hàng để tạo ra lợi nhuận (Hassan and Bashir, 2003). Đối với bất kỳ Ngân hàng, ROA phụ thuộc vào các quyết định chính sách của Ngân hàng cũng như các yếu tố không thể kiểm soát liên quan đến nền kinh tế và các quy định của chính phủ. Nhiều nhà quản l tin ROA là công cụ đo lường tốt nhất về lợi nhuận Ngân hàng (Hassan and Bashir, 2003).
Hơn nữa, Rivard and Thomas (1997) cho rằng lợi nhuận Ngân hàng được đo lường tốt nhất bởi ROA vì nó không bị bóp méo bởi yếu tố đ n bẩy tài chính và đại diện cho một biện pháp đo lường tốt hơn về khả năng của các công ty để tạo ra lợi nhuận trên danh mục đầu tư tài sản của mình. ROE thì khác, phản ánh sự hiệu quả của Ngân hàng trong việc quản l vốn cổ đông của nó. ROE của Ngân hàng bị ảnh hưởng bởi ROA của nó và mức độ của đ n bẩy tài chính (Vốn chủ sở hữu/Tài sản (Hassan and Bashir, 2003). Vì ROA có xu hướng thấp đối với các định chế tài chính trung gian, nên hầu hết các Ngân hàng s dụng đ n bẩy tài chính rất cao để tăng ROE đến một mức cạnh tranh (Hassan and Bashir).
Ngoài ra đối với ngành Ngân hàng, để đánh giá hiệu quả hoạt động người ta c n dùng chỉ tiêu Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM. Tài sản của Ngân hàng được phân loại thành các dạng: Tài sản Có sinh thu nhập lãi (như các khoản cho vay, khoản đầu tư tài chính… , Tài sản Nợ phát sinh chi phí lãi (huy động khách hàng, vay từ các Ngân hàng khác… và tài sản thông thường (tài sản cố định là văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 ph ng, máy móc thiết bị…. Thu nhập lãi thuần sản sinh ra do chênh lệch từ các khoản Tài sản Có sinh lãi được hạch toán dưới khoản mục Thu nhập lãi thuần và các khoản Tài sản Nợ thể hiện ở Chi phí trả lãi. Để đo lường hiệu quả tạo lợi nhuận của các Tài sản Có sinh lãi của Ngân hàng, người ta tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM bằng tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng dư nợ.
NIM được s dụng để đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà Ngân hàng có thể đạt được thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy Ngân hàng đang thành công trong việc quản l tài sản và nợ. Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy Ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Về mặt l thuyết, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra hiệu quả hoạt động Ngân hàng được quyết định bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài Ngân hàng. Các yếu tố bên trong được xác định từ các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính.
Nói cách khác, các yếu tố bên trong Ngân hàng c n được xem là các yếu tố vi mô của chính Ngân hàng đó. Các yếu tố bên ngoài không liên quan đến việc quản l Ngân hàng, nó phản ánh môi trường kinh tế, luật pháp, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó, các biến số giải thích của mô hình khi đưa vào nghiên cứu, cũng thường được phân thành 2 dạng yếu tố: vi mô và v mô, tuỳ theo mục đích của các nghiên cứu. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động Ngân hàng đã được các nhà nghiên cứu thực hiện chéo giữa hệ thống Ngân hàng các quốc gia với nhau, hoặc là giữa các Ngân hàng trong một quốc gia.1 Các yếu tố bên trong Ngân hàng Các yếu tố bên trong Ngân hàng bao gồm: hệ số tự tài trợ, hệ số quản trị rủi ro, năng suất lao động, hệ số quản trị chi phí, quy mô Ngân hàng.
Tổng quan các kết quả các nghiên cứu trước đây như sau: 1.1 Hệ số tự tài trợ Bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm do Berger (1995) đưa ra khi ông tiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hành kiểm định mối liên hệ giữa ROE và hệ số tự tài trợ của các Ngân hàng ở Mỹ trong giai đoạn 1983 đến 1992. Bằng cách s dụng mô hình nhân quả Granger, Berger cho thấy ROE và hệ số tự tài trợ có mối liên hệ cùng chiều. Trong một nghiên cứu khác, để tìm ra các yếu tố tác động đến NIM của Ngân hàng, Saunders and Schumacher (2000) chọn lọc số liệu từ 614 Ngân hàng ở 7 nước Châu Âu và Mỹ trong giai đoạn 1988 đến 1995 để chứng tỏ sự tồn tại mối liên hệ cùng chiều giữa hệ số tự tài trợ và NIM. Thời gian sau đó, Pasiouras and Kosmidou (2007) thực hiện nghiên cứu yếu tố nội tại Ngân hàng và môi trường kinh tế tác động đến lợi nhuận Ngân hàng trong nước và nước ngoài của 15 quốc gia Châu Âu trong giai đoạn 1995 đến 2001.
Tổng số Ngân hàng được s dụng trong nghiên cứu này là 584 Ngân hàng. Kết quả cũng cho thấy hệ số tự tài trợ tác động cùng chiều đến ROA đối với Ngân hàng trong nước và Ngân hàng nước ngoài.