ĐẶT VẤN ĐỀ Làng nghề ở Việt Nam góp một phần không nhỏ vào xây dựng và giữ gìn truyền thống văn hóa và phát triển kinh tế của nƣớc ta. Các làng nghề tồn tại từ lâu đã góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, thu hút lao động, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội địa phƣơng. Một trong những loại hình làng nghề phổ biến nhất ở nông thôn Việt Nam là làng nghề chế biến lƣơng thực (bún, miến , bánh đa, chế biến tinh bột…). Làng nghề Dƣơng Liễu là một xã làng nghề chế biến lƣơng thực tại huyện Hoài Đức, thuộc ngoại thành thành phố Hà Nội, xã Dƣơng Liễu phát triển từ những năm 1960 nổi tiếng với các sản phẩm truyền thống nhƣ: miến dong, bánh đa, chế biến tinh bột.các sản phẩm này đƣợc các thƣơng lái đến thu mua tận nơi, vì vậy quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Toàn xã có gần 3143 hộ thì trên 2.800 hộ dân làm nghề, sự phát triển nhanh chóng các ngành tiểu thủ công nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng [8]. Bên cạnh mặt đóng góp tích cực, tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề đã lên tới mức báo động, gây nhiều bức xúc cho xã hội do việc phát triển các làng nghề ở nƣớc ta vẫn mang tính tự phát, công nghệ thủ công lạc hậu, thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ, ý thức bảo vệ môi trƣờng rất thấp, các chỉ tiêu cơ bản của nƣớc thải nhƣ COD, BOD, TSS. đều vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Nƣớc thải làng nghề sản xuất miến dong chứa hàm lƣợng các chất hữu cơ cao chủ yếu là các hợp chất cacbonhidrat, prôtein, tinh bột … là các chất dễ phân hủy, chuyển hóa sinh học và các hợp chất chứa nitơ gồm nitơ ở dạng hữu cơ (amin, axit amin…), ở dạng vô cơ nhƣ NH4+, NO2- ,… làm giảm chất lƣợng của nƣớc và có thể gây ra một số bệnh nguy hiểm cho con ngƣời.
Tất cả các mặt hạn chế trên không chỉ ảnh hƣởng tới sự phát triển các làng nghề mà còn ảnh hƣởng đến chất lƣợng môi trƣờng làng nghề và sức khỏe cộng đồng trên địa bàn xã Dƣơng Liễu. Nƣớc thải làng nghề sản xuất miến dong chứa hàm lƣợng các chất hữu cơ cao chủ yếu là các hợp chất cacbonhidrat, prôtein, tinh bột … là các chất dễ phân hủy, chuyển hóa sinh học và các hợp chất chứa nitơ gồm nitơ ở dạng hữu cơ (amin, axit amin…), ở dạng vô cơ nhƣ NH4+, NO2- ,… làm giảm chất lƣợng của nƣớc và có thể 1 gây ra một số bệnh nguy hiểm cho con ngƣời. Vì thế việc tìm quy trình xử lý thích hợp đối với loại nƣớc thải này có ý nghĩa rất to lớn. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài“Nghiên cứu hiện trạng và thiết kế hệ thống xử lý nước thải sản xuất miến dong tại làng nghề Dương Liễu, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề tại Việt Nam Từ xa xƣa, ngƣời nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống nhƣ: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này đƣợc lƣu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những ngƣời chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, đƣợc cải tiến kỹ thuật hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Nhƣ vậy, làng nghề đã xuất hiện.
Cho đến nay, cả nƣớc có 2.017 làng nghề dải khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, trong đó tập trung phần lớn ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Các làng nghề thu hút hơn 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận dân cƣ khu vực nông thôn. Hiện nay, Nhà nƣớc có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam đƣợc thành lập (2005), đã có nhiều chƣơng trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề. Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trƣờng, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trƣờng…).
Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội, môi trƣờng trong nƣớc và thế giới nói chung [9]. Nƣớc ta vốn là một nƣớc nông nghiệp ngành nghề chính là trồng lúa, bên cạnh đó vào những vụ hoa màu ngƣời dân còn trồng rất nhiều cây lƣơng thực nhƣ ngô, khoai, sắn,.để phục vụ cho nhu cầu sinh sống của ngƣời dân. Các sản phẩm nông nghiệp thu đƣợc có số lƣợng rất lớn, đã tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định để phục vụ cho một số ngành sản xuất khác. Sản xuất tinh bột là nguyên liệu chính để sản xuất miến dong, ngoài ra còn phục vụ một số ngành sản xuất nhƣ bánh kẹo, mỳ, phở.
Hoạt động sản xuất miến dong đem lại lợi nhuận cao cho ngƣời dân chính vì vậy nó càng ngày càng đƣợc mở rộng hơn. Hiện nay Việt Nam là nƣớc xuất khẩu 3 tinh bột sắn đứng thứ 3 trên thế giới, sau Indonesia và Thái Lan. Các nhà máy sản xuất với công nghệ và thiết bị hiện đại cho năng suất thu hồi tinh bột cao và định mức tiêu hao nguyên liệu thấp, công nghệ sản xuất tinh bột thƣờng nhập từ nƣớc ngoài. Một số nhà máy áp dụng công nghệ sản xuất tinh bột sắn ở Thái Lan nhƣ: Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đăklăk, Quảng Ngãi, Tây Ninh,.; Áp dụng công nghệ của Trung Quốc nhƣ: nhà máy sắn Thừa Thiên Huế,.
Khái quát về ô nhiễm môi trƣờng làng nghề Việt Nam hiện nay Hiện nay, kinh tế làng nghề phát triển mạnh, nhƣng cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ; thiết bị thủ công, đơn giản; công nghệ lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp cộng thêm ý thức ngƣời dân trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái và bảo vệ sức khoẻ con ngƣời còn hạn chế. Chính những yếu tố nêu trên đã tạo sức ép không nhỏ đến chất lƣợng môi trƣờng sống của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh. Trung bình mỗi ngày, hoạt động sản xuất trong các làng nghề thải ra từ 300 đến 500 tấn bã, hơn 15.000 m3 nƣớc thải, hàng trăm tấn CTR chứa các chất tẩy rửa hóa học qua quá trình phân hủy tạo ra những mùi hôi thối. Phần lớn các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, mặt bằng chật hẹp xen kẽ với khu dân cƣ, quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu, chủ yếu tận dụng sức lao động trình độ thấp, ít áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây lãng phí tài nguyên và phát sinh nhiều chất gây ô nhiễm môi trƣờng, tác động trực tiếp đến môi trƣờng sống, điều kiện sinh hoạt và sức khỏe của ngƣời dân.
Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng nông thôn nhƣ đƣờng xá, cống, rãnh thoát nƣớc thải không đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển sản xuất, chất thải không đƣợc thu gom và xử lý, dẫn đến nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, cảnh quan thiên nhiên bị phá vỡ để nhƣờng chỗ cho mặt bằng sản xuất và các khu tập kết chất thải. Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở các làng nghề xảy ra ở mấy loại phổ biến sau đây: - Ô nhiễm nƣớc: ở Việt Nam, các làng nghề chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải công nghiệp, nƣớc thải đƣợc đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc ra sông. Nguyên nhân gây ô nhiễm nƣớc chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệp nhƣ: chế biến lƣơng thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩy giấy và nhuộm… Thƣờng thì nƣớc thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tƣợng đổi màu đối với dòng sông nhận nƣớc thải, có mùi rất khó chịu. Hơn nữa là sự vƣợt quá 4 TCCP đối với các hàm lƣợng BOD, COD, SS, và coliform, các kim loại nặng… ở cả nƣớc mặt và nƣớc ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con ngƣời [3].
- Ô nhiễm môi trƣờng không khí tại các làng nghề đến từ việc sử dụng than làm nhiên liệu (phổ biến là than chất lƣợng thấp), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất, khí thải chứa các thành phần đặc trƣng là bụi, CO2 , CO, SO2 , NOx và chất hữu cơ bay hơi. - Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thƣờng: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thƣờng đƣợc đổ ra bất kỳ dòng nƣớc hoặc khu đất trống nào. Làm cho nƣớc ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hƣởng tới sức khỏe của con ngƣời [7]. Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải.
Bên cạnh đó, ý thức của chính ngƣời dân làm nghề cũng chƣa tự giác trong việc thu gom, xử lý chất thải. Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vƣợt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề đem lại nhƣ hiện nay. Đôi nét về làng nghề Dƣơng Liễu và thực trạng môi trƣờng hiện nay Xã Dƣơng Liễu nằm ở phía Tây Bắc huyện Hoài Đức, cách Thủ đô Hà Nội 20km, nằm ven bờ sông Đáy. Có dân số là 13143 ngƣời phân bố ở 14 xóm và diện tích đất tự nhiên là 410,57ha trong đó đất nông nghiệp khoảng 295,25ha, đất phi nông nghiệp khoảng 113,32ha.
Năm 2001, xã đƣợc UBND tỉnh công nhận là Làng nghề chế biến nông sản. Tính đến thời điểm tháng 6/2015, toàn xã có 3384 hộ thì có tới 2800 hộ tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh tạo ra các sản phẩm mang giá trị thƣơng phẩm cao trên thị trƣờng.