phần mở đầu và phần kết luận kiến nghị, đề tài được kết cầu thành 3 phần sau đây: Thứ nhất, sự cần thiết và tính cấp bách của việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh nói chung và những thông tin thống kê cấp tỉnh đẻ tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia (viết gọn là sự cần thiết và tính cấp bách của việc nghiên cứu). Thứ hai, các vấn đề chung của việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh nói chung và những thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia (viết gọn là các vấn đề chung của việc nghiên cứu). Thứ ba, đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh nói chung và những thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia (viết gọn là đề xuất). PHẢN THỨ NHÁT SU CAN THIET VA TINH CAP BACH CUA VIEC NGHIEN CUU Việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh nói chung và những thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia là việc làm rất cần thiết và có tính cấp bách.
Sự cần thiết và tính cấp bách của việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh nói chung và những thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia xuất phát từ 3 điểm chủ yếu sau đây: 1. Xuất phát từ yêu cầu pháp lý Trong Quyết định số 305/ 2005/ QĐ-TTg ngày 24/ 11/ 2005 ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh/huyện/xã. Như vậy, yêu cầu pháp lý đòi hỏi phải có sự nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh từ đó xác định các chỉ tiêu thong ké can thu thập, tổng hợp từ cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia. Xuất phát từ vị trí, vai trò của hệ thống thông tin thông kê cấp tỉnh 4) Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh phục vụ yêu cầu quân lý của cấp tỉnh Cấp tỉnh là một trong 4 cấp quản lý hành chính của nước ta.
Cấp này có chức năng quản lý kinh tế -xã hội trên địa bàn, có các mục tiêu không khác nhiều lắm so với cấp quốc gia. Đây cũng là cấp kế hoạch va cap ngân sách. - Thông tin thống kê thu thập từ cấp tỉnh (ngành dọc) là một trong hai kênh thông tin quan trọng để tính các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Để tính toán các chỉ tiêu thống kê trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Tổng cục Thống kê phải tiễn hành thu thập, tổng hợp từ hai kênh với, hướng phân công chủ yếu như sau: + Kênh thông tin từ hệ thống thống kê nhà nước tập trung (thống kê xã, phòng Thống kê huyện, Cục thống kê tỉnh/thành phô), bao gồm chủ yếu những thông tin từ khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hộ gia đình.
+ Kênh thông tin từ Bộ/ngành, bao gồm những thông tin chủ yếu được tổng hợp từ hồ sơ hành chính, từ báo cáo hành chính. b) Hệ thống chỉ tiêu thong ké cap tỉnh phục vụ việc tính toán các chỉ tiêu thông kê quốc gia - Việc thu thập tổng hợp thông tin thống kê từ cấp tỉnh đòi hỏi tính chuyên nghiệp thống kê cao hơn. Đã gọi là hồ sơ hành chính, báo cáo hành chính, thì thông tin từ kênh này gần như là một tất yếu, một sự tận dụng cái đã có sẵn phần lớn được thu thập và tổng hợp từ đưới lên, thông qua việc quản lý hành chính; tính thống kê mà đặc trưng chủ yếu điều tra, nhất là điều tra mẫu là số lớn, ít được áp dụng. Trái lại, thông tin từ sản xuất kinh doanh, từ hộ gia đình thì phần lớn được áp dụng bằng hình thức điều tra, chủ yếu là điều tra mẫu, việc báo cáo định kỳ chủ yếu áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai.
Đã nói đến điều tra, đặc biệt là điều tra mẫu, là nói đến phương án điều tra, với các nội dung khác hẳn với việc thu thập, tổng hợp từ báo cáo, nhất là tổng hợp từ báo cáo hành chính. Trong đó có những nội dung đòi hỏi trình độ nghiệp vụ thống kê cao hơn, có tính chuyên nghiệp hơn, như: + Xác định phạm vi điều tra; + Xác định các đơn vị điều tra, đối tượng điều tra; + Xây dựng dàn chọn mẫu đẻ điều tra; + Phương pháp chọn đơn vị mẫu; + Phương pháp điều tra; + Tính toán suy rộng kết quả điều tra. - Thông tin được thu thập từ kênh ngành dọc có khối lượng nhiều hơn để tính những chỉ tiêu tổng hợp và phức tạp hơn như các chỉ tiêu thuộc hệ thống tài khoản quốc gia, thu nhập và đời sống. Xuất phát từ thực trạng của hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh và hệ thống thông tin thống kê thu thập từ cấp tỉnh Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh và việc thu thập thông tin thống kê từ cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê của cả nước hiện nay có nhiều kết quả, ưu điểm nhưng cũng còn nhiều hạn chế, bất cập trong đó có những ưu điểm và bất cập chủ yếu như sau: a) Những kết quả, ưu điểm chủ yếu Thứ nhất, do là một đầu mỗi, nên Cục Thống kê các tỉnh/ thành phố có điều kiện thu thập, tổng hợp thông tin kinh tế - xã hội tương đối toàn điện để phục vụ địa phương và báo cáo cho Tổng cục Thống kê.
Cũng nhờ vậy mà thông tin do Cục Thống kê tổng hợp báo cáo có điều kiện tập trung và trở thành nguồn thông tin thống kê tổng hợp gần như duy nhất để báo cáo cấp Uỷ, chính quyền và cung cấp cho các ngành, các cấp ở địa phương, nâng cao vị trí, vai trò của hệ thống thống kê ngành đọc tập trung. Thứ hai, đây là nguồn thông tin thống kê chủ yếu để tính toán tổng hợp các thông tin thống kê chủ yếu của quốc gia. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu từ các chỉ tiêu tổng hợp đến các chỉ tiêu chuyên ngành được thu thập, tỗng hợp từ ngành dọc, từ cấp tỉnh/ huyện/ xã. Cục Thống kê tỉnh trở thành đầu mối thu thập hầu hết các thông tin từ các doanh nghiệp, các Sở/ ngành, các hộ gia đình và tổng hợp báo cáo Tổng cục Thống kê; chỉ còn một số loại thông tin không nên thu thập, tổng hợp đựơc từ Cục Thống kê (như thông tin từ các ngành quản lý ngành dọc chẳng hạn) hoặc những thông tin nếu thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê sẽ không chính xác (như thông tin về lĩnh vực xuất, nhập khẩu, thông tin về khách quốc tế đến Việt Nam.
nếu tổng hợp từ Cục Thống kê sẽ dễ trùng lắp). b) Những hạn chế, bất cập Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh và việc thu thập, tổng hợp thông tin thống kê của Tổng cục Thống kê từ Cục Thống kê, từ ngành dọc hiện cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Thứ nhất, có sự trùng lắp, chồng chéo thông tin giữa hai kênh ngành dọc và kênh Bộ/ ngành, nhất là những thông tin được tổng hợp tir hd sơ hành chính. Những thông tin sau đây đã đựơc thu thập, tổng hợp từ cả hai kênh ngành dọc và kênh Bộ/ ngành: - Diện tích đất: vừa thu thập từ Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa thu thập, tổng hợp từ các địa phương.
- Số lao động được tạo việc làm trong kỳ: vừa thu thập từ Bộ Lao động-Thương bình và Xã hội, vừa thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh/thành phó. - Số người mắc/chết bệnh nghề nghiệp: vừa thu thập từ Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, vừa thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh/thành phó. - Thu ngân sách nhà nước, - Chi ngân sách nhà nước: Hai chỉ tiêu này vừa thu thập từ Bộ Tài chính, vừa thu thập, tổng hợp từ các Cục Thống kê tỉnh/thành phố. - Số dư huy động vốn của các tô chức tín dụng, - Số dư tín dụng của các tổ chức tín dụng: Hai chỉ tiêu này vừa thu thập qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh/ thành phó.
- Số người đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội; - Số người được nhận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. - Thu bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, - Chi bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội: Bốn chỉ tiêu này vừa thu thập từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vừa thu thập, tổng hợp từ các Cục Thống kê tỉnh/thành phó. - Diện tích rừng trồng mới tập trung: vừa thu thập từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vừa thu thập, tông hợp từ các Cục Thống kê. - Lượng và giá trị xuất khẩu, - Lượng và giá trị nhập khẩu: Hai chỉ tiêu này vừa thu thập từ Tổng cục Hải quan, vừa thu thập, tổng hợp từ các Cục Thống kê tỉnh/thành phố.
- Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam: vừa thu thập từ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, vừa thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê tinh/thanh phó. - Chiều dài đường bộ, đường thuỷ nội địa, - Số lượng tàu, thuyền có động cơ: Hai chỉ tiêu này vừa thu thập từ Bộ Giao thông Vận tải, vừa thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê tinh/thành phố. Cũng trùng với tình trạng trên có các chỉ tiêu : - Về Giáo dục - Đào tạo: + Số trường, lớp, giáo viên, học sinh mầm non; + Số trường lớp, giáo viên, học sinh phô thông: + Tỷ lệ học sinh phổ thông tốt nghiệp; +Tỷ lệ học sinh chuyền cấp, tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp học; +Tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban, bỏ học; + Số học viên xoá mù chữ, bổ tức văn hoá; + Số cơ sở, số giáo viên, số học sinh dậy nghề; + Số trường, số giáo viên, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp; + Số trường, số giáo viên, số sinh viên cao đẳng; + Số trường, 36 giáo viên, số sinh viên đại học.