CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan nghiên cứu công bố ở nước ngoài 1.1 Các nghiên cứu chung về hệ thống kiểm soát nội bộ Định nghĩa về kiểm soát nội bộ và các bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB (môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin & truyền thông; và giám sát) được chấp nhận rộng rãi hiện nay đã được trình bày trên báo cáo COSO. Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ [16].1: Lịch sử hình thành và phát triển của KSNB Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 8 Tuy nhiên, để đi đến một định nghĩa thống nhất như vậy, lĩnh vực KSNB đã trải qua một giai đoạn hình thành và phát triển khá dài, và về cơ bản được chia thành 4 giai đoạn [2], [15] (bảng 1. Như vậy có thể thấy rằng KSNB không những được phát triển theo hướng đa dạng hóa các nội dung kiểm soát mà còn được phát triển theo hướng chuyên sâu để có thể thích ứng với một số ngành nghề, lĩnh vực hoạt động có tính đặc thù cao. Các nghiên cứu học thuật đối với hệ thống KSNB, theo đó, cũng được thực hiện theo nhiều hướng chuyên sâu.
Tuy nhiên, có thể khái quát các nghiên cứu này theo ba hướng chính là (i) Hướng nghiên cứu hệ thống KSNB gắn với hệ thống thông tin tổ chức; (ii) Hướng nghiên cứu hệ thống KSNB gắn với hoạt động quản trị tổ chức và (iii) Hướng nghiên cứu hệ thống KSNB gắn với hoạt động tài chính của tổ chức.2 Hướng nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với hệ thống thông tin tổ chức Khởi nguồn cho các nghiên cứu theo hướng này được được bắt đầu từ năm 1996 khi Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA) ban hành (Control Objective for Information and Related Technology - COBIT) bản “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan - Cobit”. COBIT là hệ thống kiểm soát nội bộ phát triển theo hướng công nghệ thông tin, nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trường tin học. Nội dung cụ thể bao gồm kiểm soát tin học trong các lĩnh vực hoạch định, tổ chức mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát. Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá mối quan hệ giữa hệ thống thông tin và hệ thống KSNB.
Sia và các đồng sự (1997) đã chỉ ra rằng sau khi triển khai và củng cố hệ thống thông tin của doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, tầm quan trọng của hệ thống KSNB truyền thống gắn với hoạt động kế toán doanh nghiệp dần mất đi vai trò của mình [98]. Đây là hướng nghiên cứu mới và còn nhiều hạn chế vì phải đánh giá sâu về hệ thống thông tin của tổ chức, đặc biệt là trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Do vậy, chưa nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu do đó các kết luận đưa ra chưa có tính phổ biến.3 Hướng nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với hoạt động quản trị tổ chức Nghiên cứu của Steven J.Root (1998) công bố tại Beyond COSO - Internal Control to Enhance Corporate Governance, thông qua chiến lược hóa quá trình phát 9 triển hệ thống lý luận về hệ thống KSNB gắn với hoạt động quản trị doanh nghiệp đã thống nhất với quan điểm của COSO về vai trò của hệ thống KSNB trong tình hình mới và cũng cho rằng năm yếu tố cấu thành được COSO giới thiệu là phù hợp. Tác giả cũng khẳng định vai trò của hệ thống KSNB với hoạt động quản trị doanh nghiệp là không thể phủ định [95].
Hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm là đánh giá mối quan hệ giữa hệ thống KSNB với các hoạt động quản trị doanh nghiệp.Spira và Micheal Page (2002) nghiên cứu về quản trị rủi ro trong mối quan hệ với hệ thống KSNB. Các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận khái niệm rủi ro theo quan điểm xã hội học. Cách tiếp cận này đưa đến cuộc tranh luận về kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp tại Anh. Bài viết chứng minh rằng sự phát triển trong các yêu cầu quản trị doanh nghiệp tạo ra rủi ro và phát sinh nhu cầu quản trị rủi ro.
Điều này đã lý giải cho sự phát triển trong hoạt động kiểm toán nội bộ [99]. Tác giả Li và cộng sự (2006) nghiên cứu vai trò định hướng thị trường của doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới. Nghiên cứu này xây dựng một mô hình để mô tả mối quan hệ giữa tính linh hoạt tài nguyên (RF), tính linh hoạt của việc điều phối hoạt động (OCF) và khả năng giới thiệu sản phẩm mới (NPIC) trong quản trị doanh nghiệp. Mô hình giải thích các tác động mang tính kiểm duyệt của của tài nguyên sẵn có (RA) đối với cả hai loại linh hoạt trên (RF và OCF) với NPIC.
Kết quả các nghiên cứu này đều khẳng định tồn tại mối quan hệ giữa hệ thống KSNB với các hoạt động quản trị của tổ chức [109]. Holliss Ashbaugh-Skaife và các cộng sự (2009) thực hiện nghiên cứu về “The Effect of SOX Internal Control Deficiencies on Firm Risk and Cost of Equity”. Sau khi kiểm soát các yếu tố rủi ro khác, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém sẽ đối mặt với mức rủi ro riêng biệt, rủi ro hệ thống và chi phí vốn cao hơn hẳn so với các công ty khác. Nhìn chung, kết quả đánh giá (theo ngành và theo thời gian) đều thống nhất đưa đến nhận định là các báo cáo kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến đánh giá rủi ro của nhà đầu tư và chi phí vốn cổ phần của các công ty [37].
Nghiên cứu của Meifeng, Chan Li, Sarah Macway (2009) - “Internal control and management guidance” về mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống KSNB và tính chính xác của hướng dẫn quản trị. Các công ty có hệ thống KSNB không hiệu quả sẽ có xu hướng đưa ra các hướng dẫn quản trị ít chính xác hơn. Các tác giả, thông 10 qua kiểm chứng số liệu, đã mở rộng nghiên cứu đến phân tích sự thay đổi và tác động của hệ thống KSNB không hiệu quả đến độ chính xác của các dự báo về doanh thu và giá vốn và đặc biệt là dự báo thu nhập. Kết luận đưa ra là chất lượng hệ thống KSNB có ảnh hưởng đáng kể đối với các báo cáo quản trị nội bộ và quyết định quản trị [75].
Tác giả Angella Amuda và Eno L.Inanga (2009) nghiên cứu hiệu lực của hệ thống KSNB trong các dự án công. Đây là nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia thành viên khu vực (RMCs) của Nhóm Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AfDB), tập trung vào Uganda. Các tác giả phát triển một số khái niệm được sử dụng để đánh giá hệ thống KSNB trong các dự án khu vực công ở Uganda. Kết luận được đưa ra là hệ thống KSNB của các dự án này chưa hiệu quả do thiếu một số thành phần kiểm soát, do vậy, đưa ra một số khuyến nghị để cải thiện các hệ thống KSNB hiện trong các dự án [35].
Nghiên cứu của William Ofori (2011) về hiệu lực của hệ thống KSNB: Nhận thức hay thực tế. Nghiên cứu được thực hiện tại các công ty TNHH viễn thông ở vùng Ashanti, Ghana. Tác giả đã thực hiện đánh giá hệ thống KSNB của các công ty này và chỉ ra rằng có tồn tại hệ thống KSNB nhưng hiệu lực của hệ thống này ở mức thấp và chưa thỏa mãn nhu cầu của quản lý [85]. Hướng nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của hệ thống KSNB đến các hoạt động quản trị doanh nghiệp.
Một hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị trong doanh nghiệp. Hướng nghiên cứu tác động các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ đến kết quả hoạt động tài chính của tổ chức Đây là hướng nghiên cứu phổ biến nhất về KSNB vì xuất phát điểm của KSNB là gắn với các hoạt động kế toán, tài chính của doanh nghiệp. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có các tác giả như Porter và Robert (1976), Kleiner (1990), Chih - Yang Tseng (2007), Mawanda (2008), Mose (2007), Muraleetharan (2010), Mwakimasinde (2014)… Các nghiên cứu này đề cập tới những vấn đề sau [81], [68], [84], [82], [86], [91], [101]: Cách tiếp cận trước tiên phải kể đến là từng bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB có ảnh hướng đến hoạt động tài chính nói chung và hiệu quả hoạt động tài chính nói riêng của doanh nghiệp. • Một là, nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường kiểm soát với hiệu quả hoạt động tài chính.
Các nghiên cứu của Baines (1997), Park và cộng sự (1998), 11 Quigley (2007) đều nhấn mạnh việc các doanh nghiệp duy trì được những chuẩn mực về đạo đức và sự minh bạch sẽ tạo dựng được niềm tin, trách nhiệm cho bản thân người lao động, thiết lập mối quan hệ làm việc hiệu quả giữa các đồng nghiệp. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả làm việc và từ đó nâng cao hiệu quả tài chính so với các doanh nghiệp khác [38], [88],[93]. Hay nghiên cứu của Kleiner (1990) chỉ ra rằng các chính sách nhân sự sẽ làm tăng năng suất và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp [68]. • Hai là, nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động kiểm soát với hiệu quả hoạt động tài chính.
Nghiên cứu của Hitt và cộng sự (1996) được đề cập đến như một nghiên cứu rất kinh điển. Nghiên cứu này xem xét một mô hình lý thuyết nhằm giải thích các chiến lược tham gia vào thị trường kiểm soát doanh nghiệp (mua lại và thoái vốn) đã ảnh hưởng đến các cơ chế kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến sự đổi mới bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp như thế nào. Chín trong số mười giả thuyết đều củng cố cho nhận định rằng các công ty tham gia vào việc mua lại và thoái vốn chủ yếu thực hiện hoạt động kinh doanh dựa chủ yếu vào cơ chế kiểm soát tài chính [57]. Tác giả khẳng định, hoạt động kiểm soát có mối quan hệ thuận chiều với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.