Đặt vấn đề Trên thế giới có hơn 32.500 loài cá tồn tại, chiếm hơn phân nửa tổng số lượng động vật có xương sống. Bên cạnh vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học, cá còn có giá trị kinh tế và là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho con người (Ward et al. Loài Cá bống răng cưa Butis koilomatodon thuộc bộ Gobiiformes, họ Butidae, giống Butis (Froese & Pauly, 2022). Gobiiformes là một trong những Bộ lớn nhất trong Lớp cá xương, với khoảng 2.000 loài có kích thước nhỏ (4-10 cm) sinh sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn trên khắp thế giới (Agorreta et al.
Chúng thể hiện sự đa dạng về hình thái, sinh thái, tập tính (Patzner et al., 2011) và chúng được sử dụng như sinh vật điển hình trong các nghiên cứu so sánh nhằm tìm hiểu quá trình đa dạng hóa của tiến hóa cơ bản (Nakatsuji et al., 1997; Sayer, 2005; Gracey, 2008; Agorreta & Rueber, 2012). Họ Butidae có tên chung là “SLeeper goby”, trước đây họ này là một phân họ của Eleotridae nhưng sau đó đã được công nhận là một họ riêng gồm 10 giống với 46 loài (Nelson et al. Theo Eschmeyer & Fong (2015), hiện có sáu loài thuộc giống Butis được ghi nhận trên thế giới là: Butis amboinensis (Bleeker, 1853); Butis butis (Hamilton, 1822); Butis gymnopomus (Bleeker, 1853); Butis humeralis (Valenciennes, 1837); Butis koilomatodon (Bleeker, 1849) và Butis melanostigma (Bleeker, 1849). Ở Việt Nam, năm trong số sáu loài trên đã được ghi nhận ngoại trừ loài B.
melanostigma, riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Tran et al. (2020) ghi nhận có ba loài thuộc giống này là B. Các nghiên cứu định loại dựa trên hình thái học thường bị hạn chế bởi sự đa dạng hóa sinh thái diễn ra phổ biến, xu hướng biệt hóa cũng như việc giảm hoặc mất các đặc điểm hình thái do sự tiến hóa, và thiếu các nhóm định loại gần đáng tin cậy của các loài cá bống (Winterbottom, 1993). Nelson (2006) cho rằng việc xác định các nhóm cá bống dựa trên đặc điểm hình thái đôi khi chưa rõ ràng và một số nhóm mới chỉ được công nhận tạm thời.
Thai & Dang (2015) cho rằng việc sử dụng phương pháp mã vạch DNA ty thể để định loại, nghiên cứu các quan hệ hồi quy phát sinh loài và tiến hóa ở mức phân tử là cần thiết. Phương pháp mã vạch DNA (DNA barcoding) dựa trên các đoạn gen ty thể như COI và Cytb đã được sử dụng rộng rãi trong xác định loài và nghiên cứu đa dạng sinh học (Harada et al., 2002; Pepe et al., 2005; Ward et al., 2005; Bingpeng et al. Do đó, phương pháp mã vạch DNA có thể giúp phân loại ba loài trong giống Butis ở ĐBSCL, do chúng có kích thước cơ thể nhỏ và nhiều đặc điểm hình thái tương đồng. Cũng như các loài cá bống khác, Cá bống răng cưa là loài có giá trị thương phẩm ở một số tỉnh ven biển ĐBSCL đặc biệt là vùng cửa sông ven biển từ Trà Vinh đến Cà Mau và nguồn lợi từ chúng đã góp phần nâng cao thu nhập cho các ngư dân địa phương.
Tuy nhiên, khu hệ cá ở vùng này luôn bị biến động (Dinh et al., 2018b; Tran et al., 2020; Hùng và ctv., 2022) do nhiều nguyên nhân như sự biến đổi khí hậu (Badjeck et al., 2010; 1 King, 2015), xây các đập ở thượng nguồn (Baran & Myschowoda, 2009; Baird, 2011) và sự khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản (Nhiên & Định, 2012; Tuấn, 2015). Hơn nữa, đến thời điểm hiện tại, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu rời rạc được công bố có liên quan đến B. koilomatodon như: phát hiện loài mới, các đặc điểm hình thái ngoài, và điều kiện môi trường sống của chúng (Lasso-Alcalá et al., 2005; Yokoo et al., 2006; Macieira et al., 2012; Soares et al., 2012; Contente et al., 2016; Bonfim et al., 2017; GuimarãEs et al., 2017; Hossin et al., 2019; Thủy và ctv. Vì vậy, nghiên cứu kết hợp đặc điểm hình thái và phương pháp mã vạch DNA trong định loại ba loài Butis; đặc điểm sinh học đá tai, sinh sản và tăng trưởng; đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể của Cá bống răng cưa là cần thiết.
Các kết quả đạt được sẽ cung cấp dẫn liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, phân loại học, giúp đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý loài cá này ở ĐBSCL.1 Mục tiêu chung Cung cấp dẫn liệu về trình tự hai gen ty thể COI và Cytb và đặc điểm hình thái trong định loại ba loài thuộc giống Butis; các đặc điểm sinh học đá tai, sinh sản, và tăng trưởng; các đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể của loài Cá bống răng cưa ở ĐBSCL.2 Mục tiêu cụ thể 1. Phân loại ba loài cá trong giống Butis dựa trên các đặc điểm hình thái ngoài kết hợp với trình tự hai gen ty thể COI và Cytb. Cung cấp được dẫn liệu sinh học về: đá tai và quan hệ hồi quy giữa kích thước đá tai với cơ thể cá; sinh sản như hình thức và mùa vụ sinh sản; chỉ số hình thái và tăng trưởng của loài Cá bống răng cưa ở khu vực nghiên cứu. Cung cấp được dẫn liệu sinh thái về: dinh dưỡng như tính ăn và phổ thức ăn; và quần thể của loài Cá bống răng cưa ở khu vực nghiên cứu.3 Đối tượng nghiên cứu Ba loài cá thuộc giống Butis (B.
butis) được sử dụng trong nghiên cứu định danh loài dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự hai gen ty thể COI và Cytb. koilomatodon là đối tượng trong các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đá tai, sinh sản, và tăng trưởng; đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và quần thể.4 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu “Hệ gen ty thể, sinh học và sinh thái học của Cá bống răng cưa Butis koilomatodon (Bleeker, 1894) ở vùng cửa sông Hậu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long” chủ yếu được thực hiện ở sáu khu vực cửa sông dọc theo sông Hậu, thuộc bốn tỉnh ở ĐBSCL là Duyên Hải (Trà Vinh), Cù Lao Dung và Trần Đề (Sóc Trăng), Hòa 2 Bình và Đông Hải (Bạc Liêu), và Đầm Dơi (Cà Mau) trong thời gian 24 tháng từ 01/2019 đến 12/2020.5 Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Xác định loài và phân tích quan hệ di truyền giữa ba loài thuộc giống Butis ở các điểm nghiên cứu dựa trên đặc điểm hình thái ngoài, các chỉ số sinh trắc và trình tự hai gen ty thể COI và Cytb. Nội dung 2: Nghiên cứu đặc điểm sinh học về: (1) đá tai của Cá bống răng cưa bao gồm hình dạng, khối lượng, kích thước đá tai và quan hệ hồi quy giữa khối lượng đá tai với kích thước cơ thể cá; (2) sinh sản của loài Cá bống răng cưa như: tỷ lệ giới tính, hình thức sinh sản, mùa vụ sinh sản, chiều dài thành thục đầu tiên (Lm), sức sinh sản tuyệt đối (F) và quan hệ hồi quy giữa sức sinh sản với kích thước cơ thể cá cái; (3) tăng trưởng của loài Cá bống răng cưa như: chiều dài tổng, khối lượng, quan hệ hồi quy chiều dài-khối lượng (LWR), hình thức tăng trưởng, hệ số điều kiện (CF). Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái về: (1) dinh dưỡng của loài Cá bống răng cưa như: tính ăn, cường độ bắt mồi, hệ số béo Clark, phổ thức ăn; (2) quần thể của loài Cá bống răng cưa như chiều dài tối đa (L∞), hệ số tăng trưởng tổng hợp (’), hệ số khai thác (E), hệ số chết tổng (Z), hệ số chết do khai thác (F) và chiều dài đánh bắt đầu tiên (Lc) làm cơ sở đánh giá tình trạng khai thác nguồn lợi của loài cá này.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học Luận án góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học đầy đủ và có hệ thống về phân loại ba loài thuộc giống Butis, sinh học và sinh thái của Cá bống răng cưa ở vùng cửa sông ven biển ĐBSCL.
Kết quả của luận án là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu liên quan đến đặc điểm sinh học và sinh thái của hai loài còn lại thuộc giống Butis ở Việt Nam.2 Ý nghĩa thực tiễn Những đặc điểm di truyền, sinh học và sinh thái đạt được trong nghiên cứu là cơ sở dữ liệu quan trọng giúp nghiên cứu nuôi và sinh sản nhân tạo loài cá này ở vùng ven biển ĐBSCL, đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản, góp phần bảo vệ và phát triển hợp lý nghề nuôi thủy sản vùng.7 Tính mới của đề tài - Đánh giá mối quan hệ giữa yếu tố môi trường và đặc điểm hình thái. - Đã đăng ký mới 24 trình tự vùng gen COI và Cytb của ba loài B. butis trên ngân hàng gen NCBI. - So sánh sai khác và xây dựng cây quan hệ di truyền giữa ba loài cá bống thuộc giống Butis dựa trên phân tích trình tự gen ty thể COI và Cytb.
3 - Ở loài Cá bống răng cưa, xác định được đặc điểm hình thái đá tai và quan hệ hồi quy giữa sự tăng trưởng đá tai với tăng trưởng sinh dưỡng ở cá; chiều dài thành thục đầu tiên, hình thức và mùa sinh sản; kiểu hình tăng trưởng và đánh giá sự thích nghi của Cá bống răng cưa với môi trường sống. - Xác định được tính ăn và phổ thức ăn của Cá bống răng cưa; ước tính được các thông số và hiện trạng khai thác của quần thể cá. 4 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3.200 km với nhiều cửa sông, đầm phá và vũng vịnh. Trong điều kiện tự nhiên này đã hình thành nên nhiều dạng thủy vực ven bờ rất khác nhau về các mặt hình thái cấu trúc, đặc điểm môi trường, điều kiện sinh thái cũng như tiềm năng tài nguyên thiên nhiên.
Có ba loại thủy vực tiêu biểu phân bố xen kẽ lẫn nhau là cửa sông, đầm phá và vũng vịnh (Thạnh, 2009). Theo Thạnh (2012), ĐBSCL trung bình hàng năm bồi tụ ra biển 10-15 m/năm, mạnh nhất là vùng mũi Cà Mau lên đến 100 m/năm. Các cửa sông châu thổ thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu dẫn đến các hiện tượng môi trường cực đoan như xâm nhập mặn, ngập lụt do bão, sạt lở đất và đặc biệt là xói mòn bờ biển. Tuy nhiên, vùng cửa sông ven biển cũng mang lại nhiều thuận lợi như có diện tích đất ngập nước mặn chiếm 606.782 ha, là nơi phát triển của hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản.
Sáu địa điểm được chọn để nghiên cứu là Duyên Hải (Trà Vinh); Cù Lao Dung, Trần Đề (Sóc Trăng); Hòa Bình, Đông Hải (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà Mau) đều thuộc vùng cửa sông ĐBSCL.