CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ KHOANG CỔ 1. Vị trí phân loại Hệ thống phân loại [25, 36] Cá khoang cổ yên ngựa Amphirprion polymnus (Linnaeus, 1758) có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Họ: Pomacentridae Giống: Amphirprion (Bloch and Schneider, 1801) Loài: Amphirprion polymnus (Linnaeus, 1758) Tên đồng vật Amphirprion bifasciatus annamensis Chevey, 1932 A. intermedius Schlegel & Müller, 1839 A.
trifasciatus Cuvier, 1830 Anthias bifasciatus Bloch, 1792 Coracinus unimaculata Meuschen, 1781 Lutjanus jourdin Lacepède, 1802 Tên tiếng Anh Saddleback Anemonefish Saddleback Clownfish Brownsaddle Clownfish Panda Clownfish White-tipped Anemonefish Tên tiếng Việt Cá khoang cổ yên ngựa Cá khoang cổ lưng yên ngựa Cá khoang cổ sọc Cá khoang cổ hề 4 1. Thành phần loài Cá khoang cổ thuộc bộ Perciformes, họ Pomacentridae, gồm hai giống Amphiprion và Premnas. Cho đến nay, trên thế giới và Việt Nam được ghi nhận có 29 loài cá trong đó có 28 loài thuộc giống Amphiprion và 1 loài giống Premnas. Gần đây, có hai loài cá khoang cổ được công bố là loài mới song việc xác thực là loài mới hoặc là loài lai giữa hai loài trong cùng giống cá chưa thuyết phục nên số lượng 29 loài cá khoang cổ được đa số tác giả ghi nhận.
Thành phần loài cá khoang cổ [33, 38, 40] TT Tên khoa học Tên tiếng Anh 1 Amphiprion akallopisos Bleeker, 1853 Skunk anemonefish 2 Amphiprion akindynos Allen, 1972 Barrier reef anemonefish 3 Amphiprion allardi Klausewitz, 1970 Twobar anemonefish 4 Amphiprion barberi Allen, Drew&Kaufman, 2008 Barber’s anemonefish 5 Amphiprion bicinctus Rỹppell, 1830 Twoband anemonefish 6 Amphiprion chagosensis Allen, 1972 Chagos anemonefish 7 Amphiprion chrysogaster Cuvier, 1830 Mauritian anemonefish 8 Amphiprion chrysopterus Cuvier, 1830 Orangefin anemonefish 9 Amphiprion clarkii (Bennett, 1830)* Yellowtail anemonefish 10 Amphiprion ephippium (Bloch, 1790) Saddle anemonefish 11 Amphiprion frenatus Brevoort, 1856* Tomato anemonefish 12 Amphiprion fuscocaudatus Allen, 1972 Seychelles anemonefish 13 Amphiprion latezonatus Waite, 1900 Wide-band anemonefish 14 Amphiprion latifasciatusAllen, 1972 Madagascar anemonefish 15 Amphiprion leucokranos Allen, 1973 Whitebonnet anemonefish 16 Amphiprion mccullochi Whitley, 1929 Whitesnout anemonefish 17 Amphiprion melanopus Bleeker, 1852 Fire anemonefish 18 Amphiprion nigripes Regan, 1908 Maldive anemonefish 19 Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830* Clown anemonefish 20 Amphiprion omanensis Allen & Mee, 1991 Oman anemonefish 21 Amphiprion percula (Lacepède, 1802) Orange anemonefish 22 Amphiprion perideraion Bleeker, 1855* Pink anemonefish 23 Amphiprion polymnus (Linnaeus, 1758)* Saddleback anemonefish 24 Amphiprion rubrocinctus Richardson, 1842 Red anemonefish 25 Amphiprion sandaracinos Allen, 1972* Yellow anemonefish 26 Amphiprion sebae Bleeker, 1853 Sebae anemonefish 27 Amphiprion thiellei Burgess, 1981 Thielle's anemonefish 28 Amphiprion tricinctus Schultz&Welander, 1953 Maroon anemonefish 29 Premnas biaculeatus (Bloch, 1790) Spinecheek anemonefish 5 * Thành phần loài cá khoang cổ tại Việt Nam: Nguyễn Hữu Phụng & cs (1995) công bố có 6 loài cá khoang cổ tại Việt Nam bao gồm: A. Đào Tấn Hổ & cs (2000) đã điều tra và bổ sung 1 loài cá khoang cổ là A. Tuy nhiên, các khảo sát chi tiết bổ sung, hiệu đính của Hà Lê Thị Lộc (2005) và Astakhov D. (2012) và một số tác giả khác cho thấy có 6 loài cá khoang cổ phân bố tại Việt Nam là: A.
Ghi nhận sự phân bố của cả 6 loài cá khoang cổ tại vùng biển Khánh Hòa, trong đó, vịnh Nha Trang có 5 loài và và khoang cổ nemo được ghi nhận phân bố tại quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa. Đặc điểm phân bố và sinh thái Cá khoang cổ phân bố ở các vùng nước ấm thuộc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương bao gồm Rạn san hô Great Barrier và Biển Đỏ trong đó phân bố nhiều ở các vùng biển nhiệt đới có rạn san hô như tây bắc Australia, Đông Nam Á, Nhật Bản và khu vực Ấn – Malaysia. Nhóm cá này sống ở rạn san hô nên chúng là những loài hẹp muối và hẹp nhiệt. Nhiệt độ nước ở vùng phân bố đo đạt được 260C - 280C, độ mặn dao động từ 32 – 35‰.
Chất đáy vùng cá phân bố có đáy san hô, đá, cát hoặc sỏi cát, nơi có hải quỳ cư trú, độ sâu từ 1 -50m nước [35, 36]. Đa số các loài cá khoang cổ đều có vùng phân bố hẹp thậm chí là loài đặc hữu của một địa phương như cá khoang cổ A. tricinctus chỉ được biết đến tại quần đảo Marshall, A. chrysogaster là loài đặc hữu của quốc đảo Mauritius, A.
chagosensis chỉ phân bố tại quần đảo Chagos (một phần của Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh), loài A. ankindynos được xác nhận tại một số đảo thuộc vùng rạn san hô Great Barrier và một số đảo thuộc Tây Bắc Úc. Một số ít loài có vùng phân bố rộng như A. ephippium được tìm thấy tại quần đảo Andaman và Nicobar tới bờ biển phía tây Thái Lan, Malaysia, 2 đảo Sumatra và Java, loài A.
allardi được phân bố ở phía tây Ấn Độ Dương, dọc theo vùng duyên hải Đông Phi, từ Durban đến Kenya, các đảo Europa, Comoros, Madagascar và quần đảo Mascarene [33, 42, 78]. 6 : địa điểm cá KCYN phân bố Hình 1.1 Phân bố cá khoang cổ yên ngựa trên thế giới [106] Về mặt địa lý, cá KCYN có vùng phân bố rộng, từ 36°N - 33°S, 91°E - 164°E ở vùng biển Tây Thái Bình Dương trên toàn bộ vùng biển Ấn Độ - Malaysia. Ở phía đông, phạm vi phân bố của cá KCYN bị hạn chế bởi bờ biển phía đông Philippines, bờ biển phía bắc New Guinea và bờ biển phía đông của Quần đảo Solomon [35, 41]. Ở phía bắc, phạm vi phân bố của loài này bao gồm các đảo phía nam của Quần đảo Ryukyus [128].
Ở Biển Đông, loài này được ghi nhận từ vùng biển ven bờ của Trung Quốc, Đài Loan [138], Việt Nam, Singapore và Philippines [33]. Tại Việt Nam, cá KCYN phân bố dọc bờ biển Nam và Trung bộ Việt Nam, từ vùng biển Côn Đảo đến đảo Lý Sơn và Bạch Long Vỹ, đây là loài thường gặp tại vùng biển Khánh Hòa trong đó có vịnh Nha Trang, vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu, vịnh Cam Ranh và quần đảo Trường Sa. Tại Khánh Hòa, cá KCYN phân bố dọc theo bờ biển từ ở các điểm phía bắc, trung tâm thành phố Nha Trang và phía nam của vùng biển ven bờ, từ 12°03'N (Hòn Mỹ Giang, vịnh Vân Phong) đến 12°50'N (Cảng Hàng không quốc tế Cam Ranh, vịnh Cam Ranh). Trong đó, vùng được khảo sát và cá KCYN phân bố tập trung đó là rạn san hô vịnh Nha Trang [33, 46].2 Phân bố cá khoang cổ yên ngựa ven bờ tỉnh Khánh Hòa [46] Tại vùng biển Khánh Hòa, cá KCYN phân bố ở tất cả các dạng nền đáy bao gồm nền đáy san hô sống, nền san hô chết tảo-san hô, dốc đá ngầm, sườn bazan, nền cát – sét và các vùng rãnh giữa các dải đá ngầm có đáy trầm tích hoặc đá vụn, những nơi có các loài hải quỳ phù hợp với sự cộng sinh của loài phân bố.000 loài hải quỳ, tuy nhiên mỗi loài cá khoang cổ chỉ cộng sinh được với một số loài hải quỳ nhất định và cộng sinh này là bắt buộc trong tự nhiên với cá khoang cổ.
Tại Khánh Hòa, cá KCYN được ghi nhận cộng sinh với các loài hải quỳ: Stichodactyla haddoni, Heteractis crispa, Macrodactyla doreensis, và Entacmaea quadricolor [46, 78]. Đặc điểm sinh sống của cá khoang cổ theo quần đàn nhỏ từ 2 con trở lên, nghiên cứu thử nghiệm xác định mối tương quan giữa kích thước của hải quỳ và số lượng cá khoang cổ sống cộng sinh song kết quả không có ý nghĩa thống kê. Trên thực tế, số lượng cá thường từ 4 đến 12 cá thể trong đó có 2 cá thể có kích thước lớn nhất đóng vai trò là cá bố mẹ, các con còn lại có thể không có quan hệ huyết thống với cặp bố mẹ [38, 39, 45, 46]. Do cơ thể cá nhỏ bé, màu sắc sặc sỡ nên dễ dàng làm mồi cho các sinh vật ăn thịt khác nếu thiếu hải quỳ, vì vậy, người ta còn gọi cá khoang cổ là cá hải quỳ.
Cá khoang cổ là loài ăn tạp, chúng có thể ăn những thức ăn mà hải quỳ không thể tiêu 8 hoá, những xúc tu bị chết của hải quỳ cũng là thức ăn của cá. Ngược lại, khi cá tha thức ăn về tổ, những thức ăn rơi vãi sẽ là nguồn dinh dưỡng để hải quỳ tồn tại. Chưa có nghiên cứu nào phát hiện cá khoang cổ sống độc lập không có hải quỳ trong điều kiện tự nhiên mặc dù vẫn phát hiện ra nhiều cụm hải quỳ sống mà không có cá khoang cổ cộng sinh. Do đó có thể nói trong tự nhiên, đời sống của cá khoang cổ lệ thuộc vào hải quỳ nhiều hơn hải quỳ lệ thuộc vào cá khoang cổ [33, 81].
Trong điều kiện nhân tạo, khi không bị các nguy cơ cá dữ tấn công, cá khoang cổ sinh trưởng và phát triển bình thường mà không cần sự có mặt của hải quỳ. Chưa có ghi nhận nào về hiệu quả sinh sản của cá khoang cổ có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nuôi cá khoang cổ và hải quỳ hay chỉ nuôi cá khoang cổ [43]. Vì vậy, đa số các thử nghiệm sinh sản cá khoang cổ hiện nay, chỉ có cá khoang cổ được nuôi dưỡng trong môi trường nhân tạo mà không có sự hiện diện của hải quỳ vẫn đạt được các kết quả khả quan [61, 174]. Đặc điểm hình thái Cá KCYN có hình thái tia vây lưng D.
X – XI, 12 – 16; tia hậu môn A. II - III, 11 – 12; vây bụng V. 1, 7; tia vây ngực P. 18 – 19; chiều dài thân bằng 3,0 – 3,5 chiều dài đầu; vảy đường bên dao động từ 48 đến 55 hàng vảy (thường từ 52-54 hàng vảy); hàng vảy ngang từ gốc của vây lưng đến đường bên là 4 -5 vảy; từ đường bên đến gốc vây hậu môn là 17 – 21 vảy; răng hình nón, số lượng khoảng từ 34 – 38 ở mỗi hàm [25, 33] Hình 1.3 Hình dạng ngoài cá khoang cổ yên ngựa [181] 9 Cá KCYN là cá có kích thước lớn so với một số loài cá khoang cổ khác như khoang cổ nemo hay khoang cổ đỏ, kích thước tối đa của khoang cổ yên ngựa lên đến khoảng trên 14 cm.
Cá KCYN giai đoạn nhỏ và giai đoạn trưởng thành có những khác biệt về màu sắc bên ngoài. Ấu trùng cá KCYN mới nở ra thường chưa có khoang, sau khi cá nở khoảng 5-7 ngày sẽ hình thành khoang thứ 1 sau đó sẽ hình thành khoang thứ hai sau 25-30 ngày nở và hai khoang trắng sẽ tồn tại suốt đời trên mình cá trong đó khoang thứ hai biến đổi thành hình yên ngựa. Cơ thể cá KCYN trưởng thành có màu đen tuyền, trên thân có hai khoang có màu trắng sáng trong đó khoang thứ nhất ở phần xương nắp mang, khoang thứ hai chỉ khoảng ½ cơ thể và phình to ở giữa thân tạo thành hình như yên ngựa.