Nghiên Cứu Hành Vi Nghiện Mạng Xã Hội TikTok Của Sinh Viên Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp tâm lý học hành vi nghiện mạng xã hội tiktok của sinh viên tại thành phố hồ chí minh, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2023

145
36
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI TIKTOK CỦA SINH VIÊN

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok

1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok trên thế giới

1.1.2. Lý luận về hành vi nghiện mạng xã hội của sinh viên

1.2. Lý luận về hành vi nghiện

1.3. Lý luận về mạng xã hội Tiktok

1.4. Đặc điểm tâm lý của sinh viên

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HÀNH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI TIKTOK CỦA SINH VIÊN

2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok của sinh viên

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Khái quát về khách thể nghiên cứu

2.2.2. Kết quả nghiên cứu về hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok của sinh viên tại TP

2.3. Thực trạng hành vi sử dụng mạng xã hội Tiktok của sinh viên tại TP

2.4. Thực trạng mức độ nghiện mạng xã hội Tiktok của sinh viên tại TP

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok của sinh viên

2.6. So sánh hành vi nghiện mạng xã hội Tiktok của sinh viên trên bình diện trường học, độ tuổi, giới tính, đang hoặc chưa đi làm thêm/ đi làm

2.7. Tiểu kết chương 2

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hành Vi Nghiện Mạng Xã Hội TikTok

Nghiên cứu hành vi nghiện mạng xã hội TikTok của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh đang trở thành một chủ đề nóng hổi. TikTok, với sự phát triển mạnh mẽ, đã thu hút hàng triệu người dùng, đặc biệt là giới trẻ. Việc tìm hiểu về hành vi sử dụng TikTok không chỉ giúp nhận diện các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm lý mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen và tác động của nền tảng này đến sinh viên.

1.1. Định Nghĩa Hành Vi Nghiện Mạng Xã Hội

Hành vi nghiện mạng xã hội được hiểu là việc sử dụng quá mức các nền tảng mạng xã hội, dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu cho thấy rằng hành vi này có thể gây ra nhiều hệ lụy về tâm lý và xã hội.

1.2. Tình Hình Sử Dụng TikTok Tại Việt Nam

Theo thống kê, Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng người dùng TikTok cao nhất Đông Nam Á. Sự phổ biến này đã dẫn đến việc nhiều sinh viên dành hàng giờ mỗi ngày để sử dụng ứng dụng này, gây ra lo ngại về tình trạng nghiện.

II. Vấn Đề Nghiện Mạng Xã Hội TikTok Ở Sinh Viên

Vấn đề nghiện mạng xã hội TikTok đang ngày càng trở nên nghiêm trọng trong cộng đồng sinh viên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng TikTok quá mức có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm lý và hiệu suất học tập của sinh viên.

2.1. Tác Động Tâm Lý Của TikTok Đến Sinh Viên

Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng TikTok có thể gây ra cảm giác lo âu, trầm cảm và giảm khả năng tập trung. Những tác động này có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và học tập của sinh viên.

2.2. Thách Thức Trong Việc Quản Lý Thời Gian

Sinh viên thường gặp khó khăn trong việc quản lý thời gian khi sử dụng TikTok. Việc này dẫn đến tình trạng học tập bị ảnh hưởng, khi mà thời gian dành cho việc học bị rút ngắn do thời gian sử dụng mạng xã hội tăng lên.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hành Vi Nghiện TikTok

Để hiểu rõ hơn về hành vi nghiện mạng xã hội TikTok, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy về thói quen sử dụng TikTok của sinh viên.

3.1. Phương Pháp Khảo Sát

Khảo sát được thực hiện thông qua bảng hỏi, nhằm thu thập thông tin về mức độ sử dụng TikTok và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nghiện. Dữ liệu thu thập được sẽ giúp phân tích thực trạng nghiện TikTok trong cộng đồng sinh viên.

3.2. Phỏng Vấn Sâu

Phỏng vấn sâu với một số sinh viên đã được thực hiện để hiểu rõ hơn về động cơ và cảm xúc khi sử dụng TikTok. Phương pháp này giúp làm rõ các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi nghiện.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hành Vi Nghiện TikTok

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một tỷ lệ lớn sinh viên có dấu hiệu nghiện mạng xã hội TikTok. Những dữ liệu này không chỉ phản ánh thực trạng mà còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này.

4.1. Mức Độ Nghiện TikTok Của Sinh Viên

Kết quả cho thấy rằng nhiều sinh viên dành trung bình từ 2 đến 4 giờ mỗi ngày cho TikTok. Điều này cho thấy mức độ nghiện đang ở mức báo động và cần được quan tâm.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Nghiện

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như áp lực học tập, nhu cầu giải trí và sự ảnh hưởng từ bạn bè có thể là nguyên nhân chính dẫn đến hành vi nghiện TikTok ở sinh viên.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Hành Vi Nghiện TikTok

Nghiên cứu hành vi nghiện mạng xã hội TikTok của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết. Việc nâng cao nhận thức và quản lý thời gian sử dụng TikTok là rất cần thiết.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi nghiện mạng xã hội. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tác động của TikTok đến sinh viên.

5.2. Giải Pháp Đề Xuất

Cần có các giải pháp cụ thể để giảm thiểu tình trạng nghiện TikTok, bao gồm việc giáo dục sinh viên về quản lý thời gian và tác động của mạng xã hội đến sức khỏe tâm lý.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp tâm lý học hành vi nghiện mạng xã hội tiktok của sinh viên tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE HANH VI NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI TIKTOK CỦA SINH VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội tiktok 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội tiktok trên thế giới 1. Các nghiên cứu về hành vi nghiện “Hành vi nghiện” là chủ đề không quá mới lạ trong cả lĩnh vực lâm sàng và học thuật tại nước ngoài.

Nhiều nghiên cứu cho thấy nghiện hành vi và nghiện chất có nhiều điểm tương đồng vẻ lịch sử tự nhiên, hiện tượng học và hậu quả bat lợi. Cả hai đều khởi phát ở tuổi vị thành niên và thanh niên và tỷ lệ ở những nhóm tuôi này cao hơn so với người lớn tuổi (De Castro, 2007). Trong một nghiên cứu vẻ “So sánh sự thèm muốn và trạng thái cảm xúc giữa những người nghiện cờ bạc và nghiện rượu” đã chỉ ra: nhiều người mắc chứng nghiện hành vi đã xuất hiện trạng thái thôi thúc hoặc thèm muốn trước khi bắt đầu hành vi, cũng như những người mắc chứng rồi loạn sử dụng chat gây nghiện trước khi sử dụng chất gây nghiện. Bên cạnh đó, những hành vi này thường làm giảm lo lắng và dẫn đến trạng thái tâm trạng tích cực hoặc “cao”, tương tự như say chất kích thích.

Rối loạn điều hòa cảm xúc có thé góp phan gây ra cảm giác thèm ăn trong cả rối loạn hành vi và sử dụng chất gây nghiện (Banu A. Theo kết qua trong một nghiên cứu được thực hiện tại Án Độ năm 2003. hầu hết người nghiện thuộc độ tuôi từ 26-30. Phân lớn người nghiện trong nghiên cứu này là nam giới (95%) theo đạo Hỏi (92,5%) vả chưa lập gia đình (90,5%).

Họ chủ yếu xuất thân từ những gia đình cỏ địa vị kinh tế xã hội thấp. Qua nghiên cứu cũng nhận thay đối tượng để bị nghiện nat là do một số yếu tổ như do bạn bè khuyến khích (83,5%), tò mo (44,5%), thú vui giải trí (45%), thiểu tình cảm tôn giáo (95%), gia đình biến đạng (19%). Hầu hết tất cả những người nghiện cho biết sự thất vọng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghiện (100%). Một số người nghiện đã từng bị bắt giam vì hành vi chống đối xã hội (11,5%).

Sau khi dùng ma túy, sự thay đổi về thẻ chất, tình cảm và thay đôi hành vi của người nghiện như chóng mặt (95%), thờ ơ với công việc (94,5%), hay nôn (100%), sai sót trong công việc 43%), nóng nay (28 %), khó thở (39%), hưng 13 phan, hành vi hung hăng (100%), tram cảm (95%), thiểu chủ động (88%), xu hướng tự tứ (10%), hành vi không nhất quán (§9%), v. Nghiên cứu cũng cho thấy 12,5% người nghiện xuất thân từ gia đình tan vỡ. Nghiên cứu hiện tại tiết lộ rằng động cơ nghiện ma túy hang dau là để giải tỏa căng thing (77,12%). Người nghiện ma tuý có mỗi quan hệ không hài lòng với anh chị em ruột (34,13%); với cha mẹ (32,5%) và vẻ các thành viên khác trong gia đình (28%) (Engs, Ruth Clifford, 2014).

Kế thừa từ các lý thuyết và nghiên cứu trước đây về chứng nghiện hành vi. Haiyan Zhao và các cộng sự đã tham khảo mô hình thành phan sáu yêu tổ được chấp nhận rộng rãi của Griffiths và xây dựng một thang đo 18 mục, với mỗi thành phan được do bằng ba mục. Thang đo liên quan đến đo lường “Hanh vi nghiện mua sắm trực tuyến”. Kết quả trên 3 lần thực nghiệm với khách thê cho thấy mức độ nghiện mua sắm trực tuyến ở mức độ tương đối cao.

Tác giả cũng khang định thang điểm 18 mục này là một công cụ dựa trên lý thuyết vững chắc đề đo lường thực nghiệm chứng nghiện mua sim trực tuyến và có thê được sử dụng đề tìm hiểu các hiện tượng ở thanh niên (Haiyan Zhao, 2017). Theo ước tính trong báo cáo của Ngân hàng Thể giới Kiểm soát đại dịch: Về các chính phủ kiểm soát tình trạng lạm dụng thuốc lá, lay ví dụ cụ thé là EU, nếu bắt đầu giảm 50% hút thuốc lá vào năm 2020, số người chết vì thuốc lá giảm từ 520 xuống khoảng 500 triệu vào năm 2050, Mặt khác, néu một nửa số người hút thuốc hiện tại ngừng sử dụng thuốc lá bằng 2020, số ca tử vong do thuốc lá sẽ giảm từ 520 xuống còn 340 triệu vào năm 2050 (Brussels, 2012). Một nghiên cứu thực hiện tại Hoa Kỳ của tác giả Erin L. McKeague đã dựa vào sự khác biệt giới tính dé phân định nguyên nhân, biểu hiện và nhu cầu điều trị của phụ nữ mắc chứng nghiện tình dục.

Dữ liệu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy phụ nữ trải qua nhiều chan thương và ton thương thời thơ ấu hơn do rạn nứt tinh cảm gắn bó. Sự xấu hỗ là tác động cốt lõi của chứng nghiện tinh dục va được kết hợp với phụ nữ bởi những thông điệp văn hóa tiêu cực. Tác giả cũng đưa ra các khuyến nghị cụ thé về điều trị phụ nữ nghiện tình dục được cung cấp và đặt trong một môi trường trị liệu đa phương thức (McKeague, Erin, 2014). Một nghiên cứu của Tạp chí Quốc tế về Nghiên cứu Khoa học Y tế Chứng thực được thực hiện vào năm 2023 nhằm đánh giá mỗi quan hệ của sức khỏe tâm lý với chứng nghiện thực phẩm.

Kết quả cho thấy răng nghiện thực phẩm là một hành vi nghiện thực phẩm có ham lượng đường và chất béo cao dan đến ăn quá nhiều. Hau hết 14 những người tham gia (1200 người từ 15 - 60 tuôi) déu nghiện thức ăn nhẹ (66. Người ta thay rằng 65,5% người tham gia có van đề nhẹ vẻ tâm lý. Vì chưa có chan đoán nghiện nên các tiêu chuẩn chân đoán tập trung vào các triệu chứng đau khô va suy giảm hoạt động hàng ngày.

Qua đó, tác giả kết luận việc nghiện thực phẩm gia tăng có thể dẫn đến gia tăng các vấn dé tâm lý (Fazal, Amaila & Saad, & Khan, Ahmed. Nhìn chung, nghiện và hành vi nghiện được quan tâm nghiên cứu nhiêu trong lĩnh vực Y học. Bằng chứng là có khá nhiều công trình nghiên cứu về nghiện như nghiện ma túy, nghiện mua sắm, nghiện thuốc lá, nghiện thực phẩm. Các nghiên cứu cũng mở rộng nhiều van đề liên quan đến thực trạng.

hậu qua, mỗi tương quan với các yếu t6 bên ngoài. vì các tiêu chuân chân đoán về hành vi nghiện chưa rõ ràng nên các nhà nghiên cứu van đang trong quá trình phát trién các công trình khoa học. Vì vay, hướng nghiên cứu về hành vi nghiện luôn là xu hướng và có đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực 1. Các nghiên cứu về hành vi nghiện internet Nghiên cứu về hành vi nghiện internet được thực hiện lần dau tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1996 bởi Kimberly S Young Hoa Kỳ.

Nghiên cứu tiến hành trên 600 trường hợp sử dụng internet quá mức và có dấu hiệu của nghiện internet (được đánh giá trên bang câu hỏi phỏng theo bảng câu hỏi của DSM-IV vẻ nghiện cờ bạc. Sau đó, tác giả thực hiện thêm nhiều nghiên cứu khác dé khám phá nhiều hướng khác nhau của nghiện internet nhằm đưa ra khái niệm nghiện internet, giải thích sự khác nhau giữa nghiện internet và sử dụng internet thông thường cũng như cách đưa ra đánh giá vẻ mức độ, biểu hiện, hậu quả của hành vi nghiện internet. Nghiên cứu năm 2014 về tình trạng nghiện internet ở sáu nước Châu A ghi nhận tỉ lệ nghiện internet cao nhất tại Philippin (50.5%) và thấp nhất tại Hàn Quốc (13. Tai Albania — một nước đông nam châu Au, tac gia Elona Hasmujaj da thực hiện nghiên cứu trên 151 sinh viên tir 18-23 tuôi, sống ở những nơi khác nhau của phía Bac nước này dé tìm hiểu mỗi quan hệ giữa chứng nghiện internet và sự cô đơn của các sinh viên.

Kết quá cho thấy một mối tương quan nghịch nhỏ giữa cô đơn và nghiện Intcrnet, mặt khác, không có sự khác biệt giới tính nào về mức độ nghiện Internet và cô đơn; hơn nữa sinh viên nghiện Internet có tỷ lệ cô đơn thấp hơn đáng ké (Elona Hasmulaj, 2016). 15 Theo một phân tích tông hợp gém tám bai báo với 1641 bệnh nhân nghiện internet cho thấy mỗi liên quan giữa nghiện internet và tình trạng lạm dụng rượu, tăng động giảm chú ý, lo lắng va tram cam (Chun Man Roger Ho et al, 2014). Tai Singapo, nghiên cứu cua Subramaniam Mythily, Shijia Qiu va Munidasa Winslow (2008) trên tổng cộng 2735 thanh thiếu niên, trong đó có 49,4% nam và 50,6% là nữ, tuôi trung bình là 13,9 tuổi. Kết qua cho thấy khoảng 17,1% thanh thiếu niên báo cáo là đã sử dụng internet hơn 5 giờ mỗi ngày, va tất cả trong số họ có những dau hiệu của lam dụng internet (Subramaniam Mythily et al, 2008) Một nghiên cứu tại Hàn Quốc vào năm 2021 đã tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của việc nghiện điện thoại thông mình của cha mẹ Hàn Quốc đối với chứng nghiện điện thoại thông minh của trẻ em Hàn Quốc và ảnh hưởng giới tính và tuôi tác của đến hành vi nghiện của trẻ em.

Tác giả chỉ ra rằng: Nghiện điện thoại thông minh ở trẻ em và thanh thiếu niên có tác động tiêu cực, vì sử dụng quá nhiều điện thoại thông minh có thê gây ra các triệu chứng thé chat, chăng hạn như mệt mỏi. khó tiêu và khó ngú, cũng như các vấn đề tâm lý, chăng hạn như tram cảm, lo lắng và bốc đông. Bên cạnh đó, mức độ nghiện điện thoại thông minh của cha mẹ ảnh hưởng đến trẻ em và thanh thiếu niên (có mỗi tương quan thuận); độ tuôi của trẻ em và thanh thiểu niên ảnh hưởng đến mức độ nghiện điện thoại thông minh, trong khi giới tính của chúng không ảnh hưởng đến điều đó (Hye-Gyeong Son et al, 2021) Đáng chú ý là một nghiên cứu mở rộng được thực hiện nhóm thanh thiểu niên tại Nhật Bản vào năm 2014 và tại Thái Lan vào năm 2016 nhằm phân tích, so sánh các yếu tổ liên quan đến nghiện điện thoại thông minh ở hai quốc gia không đồng nhất về cả trình độ phát triển kinh tế và văn hóa. Kết quả cho thấy, nghiện điện thoại thông minh phô biến hơn ở thanh thiếu niên Thái Lan so với thanh thiếu niên Nhật Bản và phô biến ở nữ giới hơn nam giới ở cả hai quốc gia.

Các biện pháp can thiệp dé giảm nghiện điện thoại thông minh cần quan tâm đến cả bối cảnh và giới tính, đông thời nên tận dụng tác dụng bảo vệ của sự kết nỗi của cha mẹ (Arunrat Tangmunkongvoraku et al, 2020). Một nghiên cứu tại Quảng Đông, Trung Quốc đã chỉ ra xu hướng nghiện mua sắm trực tuyến (OSAT) trong giới sinh viên đại học đã trở nên quá nghiêm trọng. Nghiên cứu trên 1123 (tuổi trung bình = 20,28; 58% là nữ) cho thấy không có sự khác biệt về giới trong OSAT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Vi Nghiện Mạng Xã Hội TikTok Của Sinh Viên Tại Thành Phố Hồ Chí Minh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen sử dụng TikTok của sinh viên, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nghiện mạng xã hội này. Nghiên cứu không chỉ chỉ ra những tác động tiêu cực mà còn nêu bật những lợi ích mà TikTok mang lại cho sinh viên, như việc kết nối xã hội và phát triển kỹ năng sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến hành vi tiêu dùng trên mạng xã hội, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp quản trị kinh doanh phân tích các rủi ro ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của sinh viên trên ứng dụng tiktok tại thành phố hồ chí minh, nơi phân tích các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của sinh viên trên TikTok.

Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tâm lý học hành vi nghiện mạng xã hội facebook của sinh viên một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh phân tích theo tiêu chuẩn hành vi nghiện trong tâm lý học cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hành vi nghiện mạng xã hội nói chung, từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung thông tin mà còn mở ra cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về ảnh hưởng của mạng xã hội đến đời sống sinh viên.