Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 22 năm phát sóng liên tục trên kênh VTV3 thuộc Đài Truyền hình Việt Nam, chương trình Đường lên đỉnh Olympia đã khẳng định vị thế là một sân chơi trí tuệ uy tín dành cho học sinh trung học phổ thông trên cả nước. Mỗi năm, chương trình tổ chức định kỳ 52 số phát sóng, bao gồm 36 cuộc thi tuần, 12 cuộc thi tháng, 4 cuộc thi quý và 1 trận chung kết năm được truyền hình trực tiếp đến 4 điểm cầu. Trong cấu trúc vận hành của một chương trình truyền hình tương tác trực tiếp, người dẫn chương trình giữ vai trò hạt nhân trong việc kết nối kịch bản, dẫn dắt các phần thi, điều phối nhịp độ trường quay và giải tỏa áp lực tâm lý cho thí sinh.

Mặc dù có vai trò thiết yếu, các nghiên cứu ngôn ngữ học trước đây phần lớn mới dừng lại ở việc khảo sát đặc điểm ngôn ngữ báo chí nói chung hoặc phân tích hội thoại thường nhật. Vấn đề nghiên cứu then chốt của luận văn là giải mã cơ chế vận hành của các hành động ngôn ngữ do người dẫn chương trình thực hiện trong một diễn ngôn truyền hình vừa mang tính chuẩn mực, vừa đòi hỏi tính ứng biến linh hoạt.

Mục tiêu cụ thể của công trình là nhận diện, phân loại, thống kê tần số xuất hiện và phân tích các mô hình cấu trúc cú pháp của từng hành động ngôn ngữ. Phạm vi khảo sát tập trung vào toàn bộ 50 tập phát sóng trong năm 2021 tại trường quay S14, bóc tách tổng cộng 2.087 hành động ngôn ngữ trước khi thí sinh phản hồi câu hỏi. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật sâu sắc khi bổ sung hệ thống dữ liệu thực nghiệm cho Ngữ dụng học tiếng Việt, đồng thời cung cấp những chỉ dẫn chuẩn mực giúp nâng cao chất lượng dẫn chương trình truyền hình hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc của lý thuyết hành động ngôn ngữ khởi xướng bởi John L. Austin (1962) và được hoàn thiện bởi John R. Searle (1969, 1977). Theo khung lý thuyết này, phát ngôn của con người được phân định thành ba cấp độ hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời. Luận văn đi sâu vào phân tích các hành động ở lời thông qua hệ thống động từ ngữ vi, biểu thức ngữ vi tường minh và hàm ẩn, cũng như các nhóm hành động điển hình như điều khiển, biểu cảm, tái hiện, tuyên bố và cam kết. Đồng thời, đề tài vận dụng bốn điều kiện sử dụng hành động ở lời của Searle bao gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản để phân tích tính xác thực và hiệu lực giao tiếp của người dẫn chương trình.

Bên cạnh lý thuyết hành động ngôn ngữ, luận văn tích hợp lý thuyết hội thoại của Đỗ Hữu Châu (2007) và Đỗ Thị Kim Liên (2005) để phân tích các đơn vị tương tác như cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và lượt lời. Đặc biệt, nghiên cứu ứng dụng toàn diện nguyên tắc lịch sự của Geoffrey Leech (1983) với 6 phương châm căn bản: khéo léo, hào hiệp, tán thưởng, khiêm tốn, tán đồng và cảm thông. Đây là công cụ đắc lực nhằm làm sáng tỏ chiến lược ngôn từ khéo léo của người dẫn chương trình khi tương tác với thí sinh nhỏ tuổi trong một môi trường thi đấu căng thẳng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 50 chương trình Đường lên đỉnh Olympia phát sóng trong năm 2021 trên sóng VTV3. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ theo trục thời gian 12 tháng, bao trọn vẹn từ các vòng thi tuần, tháng, quý đến trận chung kết năm nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và không bỏ sót các biến thể tương tác theo độ khó tăng dần của cuộc thi.

Sau khi thu thập, toàn bộ các lượt lời của người dẫn chương trình được chuyển ngữ thành văn bản phục vụ phân tích diễn ngôn. Tác giả kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thống kê, phân loại định lượng và phương pháp phân tích diễn ngôn ngữ dụng định tính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì nghiên cứu cần đo lường chính xác tần số và tỷ lệ phần trăm của từng mô hình cấu trúc câu, từ đó quy nạp và luận giải các chiến lược giao tiếp trong bối cảnh văn hóa truyền hình Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 50 cuộc hội thoại với tổng số 2.087 hành động ngôn ngữ của người dẫn chương trình trước khi thí sinh trả lời câu hỏi đã mang lại những phát hiện định lượng then chốt:

Thứ nhất, hành động hỏi giữ vị trí áp đảo tuyệt đối trong cơ cấu phát ngôn của người dẫn chương trình với 823 lượt xuất hiện, chiếm tỷ lệ 39,4%. Tiếp theo là hành động trần thuật với 376 lượt (chiếm 18,0%), hành động chúc đạt 333 lượt (chiếm 16,0%), hành động giới thiệu đạt 196 lượt (chiếm 9,4%), hành động chào đạt 192 lượt (chiếm 9,2%) và hành động mời chiếm 8,0% với 167 lượt xuất hiện.

Thứ hai, trong tổng số 749 hành động hỏi trực tiếp được phân tích chi tiết, mô hình cấu trúc dạng xác nhận thông tin có... không? chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,3% (tương ứng 302 lượt). Mô hình câu hỏi mở thăm dò cảm xúc, ý kiến dạng ...như thế nào/thế nào? đứng thứ hai với 25,9% (194 lượt). Cấu trúc hỏi đóng kiểm tra mức độ sẵn sàng dạng ...chưa? chiếm 16,0% (120 lượt). Cấu trúc hỏi tìm kiếm thông tin mới dạng ...là gì? chiếm 5,8% (43 lượt). Đáng chú ý, cấu trúc truy vấn nguyên nhân Tại sao...? chiếm tỷ lệ thấp nhất với chỉ 2,5% (19 lượt), các mô hình khác chiếm 0,5% (4 lượt). Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận 73 hành động hỏi không nhằm mục đích hỏi (dùng để khẳng định hoặc cầu khiến).

Thứ ba, sự phân bổ hành động ngôn ngữ mang tính phân hóa chức năng sâu sắc qua 4 vòng thi: Phần Khởi động chiếm tới 55,3% tổng số hành động hỏi trực tiếp (413 lượt) và 100% các hành động chào, giới thiệu nhằm thiết lập quan hệ giao tiếp ban đầu. Ngược lại, phần Về đích tập trung 44,7% số lượt hỏi trực tiếp (334 lượt) và 82,6% các hành động mời (138 lượt) nhằm phục vụ trực tiếp cho việc chọn gói câu hỏi, kích hoạt ngôi sao hy vọng và trao quyền trả lời.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thống kê phản ánh một chiến lược ngữ dụng tinh tế và có chủ đích của người dẫn chương trình. Việc cấu trúc hỏi có... không? và ...thế nào? chiếm tỷ trọng lớn (tổng cộng trên 66,2%) chứng minh người dẫn chương trình luôn ưu tiên khơi gợi tâm lý tự tin, cho phép thí sinh bộc bạch cảm xúc một cách tự nhiên. Trong khi đó, câu hỏi Tại sao...? bị hạn chế tối đa ở mức 2,5% do dạng câu hỏi này mang tính chất truy vấn, dễ gây áp lực căng thẳng cho thí sinh trên sóng truyền hình trực tiếp.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh việc thực thi xuất sắc phương châm khéo léo và cảm thông theo thuyết lịch sự của Leech. Dù thí sinh nhỏ tuổi hơn, người dẫn chương trình luôn sử dụng đại từ nhân xưng bạn hoặc gọi tên riêng kèm theo các tiểu từ tình thái cuối câu như nhé, ạ, nha để duy trì quan hệ giao tiếp thân mật và tôn trọng. Toàn bộ các tương tác này có thể được biểu diễn một cách trực quan qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu 6 nhóm hành động ngôn ngữ và bảng ma trận đối sánh tần suất hành động qua từng vòng thi, làm nổi bật bức tranh tổng thể về nghệ thuật dẫn dắt chương trình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị mang tính hành động cao:

Thứ nhất, chuẩn hóa bộ quy chuẩn diễn ngôn và kịch bản tương tác cho các chương trình trò chơi truyền hình trí tuệ. Mục tiêu là giảm 15% các phát ngôn trùng lặp dư thừa và nâng cao 20% mức độ tương tác tích cực của người chơi. Nhiệm vụ này do Ban Sản xuất các chương trình Giải trí thuộc Đài Truyền hình Việt Nam chủ trì thực hiện trong giai đoạn từ Quý 1 đến Quý 3 năm 2024.

Thứ hai, thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu về ngữ dụng học ứng dụng và kỹ năng phản xạ ngôn ngữ cho người dẫn chương trình. Chỉ tiêu đặt ra là 100% người dẫn chương trình chính thức nắm vững kỹ thuật đặt câu hỏi khích lệ và kiểm soát việc sử dụng động từ ngữ vi chuẩn xác. Trung tâm Đào tạo Truyền hình phối hợp với các chuyên gia ngôn ngữ học triển khai định kỳ 6 tháng một lần bắt đầu từ năm 2024.

Thứ ba, tích hợp khung phân tích hành động ngôn ngữ truyền hình vào chương trình giảng dạy thực hành của các ngành Báo chí, Ngôn ngữ học và Truyền thông đa phương tiện. Mục tiêu là nâng cao 30% hiệu quả thực hành phỏng vấn và điều phối sân khấu cho sinh viên trước năm 2025, do các trường đại học khối khoa học xã hội và nhân văn áp dụng.

Thứ tư, xây dựng cơ chế phản hồi ngữ dụng đa chiều giữa biên tập viên, đạo diễn và người dẫn chương trình sau mỗi đợt ghi hình. Mục tiêu duy trì tỷ lệ phát ngôn đạt chuẩn mực văn hóa trên 98% trong tổng số 52 chương trình phát sóng hàng năm tại các đài truyền hình trung ương và địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị dành cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là người dẫn chương trình và biên tập viên truyền hình. Luận văn cung cấp cho người dẫn chương trình những mô hình tương tác lời thoại thực chứng, giúp họ làm chủ kỹ năng ứng biến linh hoạt, nghệ thuật đặt câu hỏi mở và cách thức áp dụng phép lịch sự để nâng cao chất lượng các chương trình phát sóng trực tiếp.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ dụng học và Việt ngữ học. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng bộ dữ liệu 2.087 hành động ngôn ngữ của luận văn làm tài liệu tham khảo nghiên cứu về cấu trúc diễn ngôn, hành vi ngôn ngữ và các bình diện hội thoại thực nghiệm.

Nhóm thứ ba là sinh viên các ngành Báo chí, Truyền thông đại chúng và Quan hệ công chúng. Luận văn đóng vai trò là cẩm nang thực hành kỹ năng nói trước công chúng, kỹ thuật phỏng vấn và xử lý tình huống đối thoại trên sân khấu.

Nhóm thứ tư là các nhà sản xuất nội dung số và chuyên gia xây dựng kịch bản truyền thông. Luận văn hỗ trợ tối ưu hóa cấu trúc lời thoại trong video, talkshow và podcast trực tuyến nhằm giữ chân khán giả và tăng cường tính gắn kết tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Người dẫn chương trình sử dụng hành động hỏi với tần suất cao nhất vì lý do gì? Hành động hỏi xuất hiện tới 823 lượt, chiếm 39,4% tổng số phát ngôn bởi đây là công cụ chính để người dẫn chương trình khai thác thông tin cá nhân, giải tỏa căng thẳng cho thí sinh và dẫn dắt các gói câu hỏi. Ví dụ, câu hỏi "Bạn đã sẵn sàng chưa?" được sử dụng chuẩn mực ở tất cả các cuộc thi để tạo tâm thế tự tin cho người chơi trước khi bước vào phần thi bấm chuông.

Tại sao mô hình câu hỏi "Tại sao...?" chỉ chiếm 2,5% tổng số câu hỏi trực tiếp? Mô hình "Tại sao...?" chỉ xuất hiện 19 lượt trên 749 câu hỏi trực tiếp vì dạng câu hỏi này mang tính chất truy vấn sâu, đòi hỏi lập luận phức tạp và dễ gây áp lực tâm lý cho thí sinh. Người dẫn chương trình chủ động hạn chế cấu trúc này nhằm tuân thủ phương châm khéo léo của Leech, duy trì bầu không khí thân thiện tại trường quay.

Động từ ngữ vi phát huy vai trò như thế nào trong lời thoại của người dẫn chương trình? Người dẫn chương trình sử dụng các động từ ngữ vi tường minh như "chào", "chúc", "mời", "cảm ơn" ở ngôi thứ nhất tại thời điểm phát ngôn hiện tại để thực hiện hành động ngay khi nói. Điển hình như phát ngôn "Xin mời các thí sinh còn lại", động từ ngữ vi "mời" lập tức trao quyền trả lời câu hỏi hợp lệ cho thí sinh theo đúng quy định thi đấu.

Nghiên cứu có khảo sát hệ thống câu hỏi kiến thức học thuật trong chương trình không? Luận văn chủ động loại trừ các câu hỏi kiến thức chuyên môn đã được nạp sẵn trong hệ thống kịch bản kỹ thuật của ban tổ chức. Nghiên cứu chỉ tập trung bóc tách 2.087 phát ngôn giao tiếp tự nhiên, lời dẫn dắt và tương tác ngoài thi đấu của người dẫn chương trình để làm sáng tỏ bản chất của diễn ngôn ứng biến truyền hình.

Tính lịch sự trong giao tiếp truyền hình được biểu hiện cụ thể qua những phương tiện nào? Tính lịch sự được biểu hiện qua việc xưng hô bình đẳng, tôn trọng dù đối tượng nhỏ tuổi hơn, kết hợp linh hoạt các tiểu từ tình thái như "nhé", "ạ", "nha". Điển hình khi thí sinh trả lời sai, người dẫn chương trình sử dụng cách nói giảm nhẹ "Brunay mới đúng ạ" thay vì bác bỏ gay gắt, giúp thí sinh giữ vững sự bình tĩnh cho các câu hỏi tiếp theo.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua những đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện 2.087 hành động ngôn ngữ của người dẫn chương trình Đường lên đỉnh Olympia trong 50 số phát sóng năm 2021, xác định rõ vai trò chủ đạo của hành động hỏi (chiếm 39,4%) và hành động trần thuật (chiếm 18,0%).
  • Nhận diện và miêu tả chi tiết 5 mô hình cấu trúc câu hỏi trực tiếp, trong đó mô hình xác nhận thông tin chiếm ưu thế tuyệt đối với 40,3% (302 lượt), chứng minh định hướng giao tiếp thân thiện và hỗ trợ tâm lý người chơi.
  • Vận dụng thành công lý thuyết hành động ngôn ngữ của Austin, Searle và nguyên tắc lịch sự của Leech để chứng minh cơ chế điều phối hội thoại chuẩn mực, kết hợp hài hòa giữa kịch bản định sẵn và năng lực ứng biến tại hiện trường.
  • Đóng góp nguồn ngữ liệu thực nghiệm phong phú cho Ngữ dụng học tiếng Việt và đặt nền tảng phương pháp luận cho các nghiên cứu về ngôn ngữ truyền hình sau này.
  • Đề xuất định hướng mở rộng nghiên cứu trong giai đoạn 2024-2025 sang các yếu tố cận ngôn ngữ như cử chỉ, ánh mắt, ngữ điệu và so sánh đối chiếu với các định dạng gameshow truyền hình quốc tế.

Các cơ quan báo chí, cơ sở đào tạo truyền thông và bạn đọc quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả những chuẩn mực diễn ngôn này vào thực tiễn nghề nghiệp.