phần mở đầu, làm cơ sở cho phần kết luận của diễn ngôn. - Phần kết luận: là phần đúc kết, khẳng định, mở rộng vấn đề hoặc liên hệ với những vấn đề có liên quan khác. Có hai dạng kết luận thường gặp là kết luận “đóng” để khẳng định những thông tin ở phần trước hoặc dạng kết luận “mở” để từ đó gợi ra những vấn đề có liên quan nhằm định hướng dư luận. Phân loại diễn ngôn Bởi ngôn ngữ tồn tại trong nhiều tình huống giao tiếp khác nhau nên cũng có nhiều cách phân loại diễn ngôn khác nhau, giữa chúng có sự giao nhau trên nhiều phương diện.
Một số cách phân loại diễn ngôn thường gặp là: - Phân loại diễn ngôn dựa vào trường diễn ngôn. Hatim và Mason là hai tác giả tiêu biểu phân loại diễn ngôn theo cách này. Dựa vào cách phân loại này sẽ có diễn ngôn giáo dục, tôn giáo, khoa học,… - Phân loại diễn ngôn dựa vào sự phân biệt hoặc chức năng. Brown và Yule là hai tác giả tiêu biểu phân loại diễn ngôn theo cách này.
Theo đó, Brown và Yule tiến hành phân lớp các loại diễn ngôn theo sự giao tiếp của con người dựa vào chức năng giao dịch (ngôn ngữ dùng để có được dịch vụ và hàng hóa) và chức năng liên nhân (ngôn ngữ được dùng để hoàn thành mục đích xã hội). 15 - Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc. Cách phân loại này của Hausenblas. Tác giả đã phân loại diễn ngôn theo khuôn văn bản, cấu trúc nội tại, từ đó đưa ra các kiểu diễn ngôn khác nhau.
- Phân loại dựa vào trường diễn ngôn, không khí chung và cách thức tổ chức của diễn ngôn. Tiêu biểu cho cách phân loại này là tác giả Halliday. Tác giả sử dụng các yếu tố này để tiến hành phân loại ngữ vực. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại diễn ngôn theo quan điểm của tác giả Halliday.
Đó là phân loại diễn ngôn dựa vào ngữ vực vì ngữ vực là sự phân chia mang tính bao quát nhất, dưới ngữ vực còn có các kiểu, loại diễn ngôn cụ thể. Chẳng hạn như ngữ vực báo chí bao gồm các thể loại: tin, phỏng vấn, bài phản ánh, bài bình luận, phóng sự,… 1. Phân tích diễn ngôn a) Khái niệm Phân tích diễn ngôn là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như Xã hội học, Văn học, Triết học, Tâm lý học,… Trong Ngôn ngữ học, thuật ngữ “phân tích diễn ngôn” (discourse analysis) được dùng để mô tả, phân tích ngôn ngữ trong khi hành chức, ở dạng động, trong mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh, từ đó làm nổi bật mối quan hệ giữa cấu trúc ở bên trong ngôn ngữ với môi trường ở bên ngoài ngôn ngữ. Brown và Yule (1983) lấy quá trình ngôn ngữ vận động làm đối tượng nghiên cứu chính để khảo sát việc làm thế nào mà người nhận có thể hiểu được thông điệp của người phát ở trong một tình huống giao tiếp cụ thể và cách người tiếp nhận hồi đáp lại cũng tiếp tục tác động đến cấu trúc của diễn ngôn tiếp theo của người phát.
Hai tác giả đã đưa ra nhận định: phân tích diễn ngôn nhất thiết phải là sự phân tích ngôn ngữ trong sử dụng (language in use). Như vậy, phân tích diễn ngôn không bị giới hạn trong việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ mà phải quan tâm đến mục đích hoặc chức năng mà các hình thức này được tạo ra để đảm nhận trong các hoạt động của con người5 (tr. 5 “The analysis of discourse is, necessarily, the analysis of language in use. As such, it cannot be restricted to the description of linguistic forms independent of the purpose or functions which those forms are designed to serve in human affairs”.
16 Cook (2001) cho rằng dù trọng tâm chính của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ nhưng nó không chỉ liên quan đến ngôn ngữ. Phân tích diễn ngôn tập trung khảo sát ngữ cảnh giao tiếp như ai đang giao tiếp với ai và tại sao, trong loại xã hội và hoàn cảnh nào; nhờ phương tiện gì; các hành động giao tiếp khác nhau thì được sử dụng như thế nào và mối quan hệ giữa chúng với nhau6 (tr. Ở Việt Nam, phân tích diễn ngôn được du nhập vào khá muộn bởi nó còn phải trải qua quá trình phát triển từ ngữ pháp văn bản. Ban đầu, các nhà nghiên cứu chỉ ra các vấn đề liên quan đến giao tiếp, phân tích diễn ngôn và cấu tạo văn bản.
Các tác giả hiểu rằng: phân tích diễn ngôn phải gắn với mục đích, chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến như: Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985), Giao tiếp. Đoạn văn của Diệp Quang Ban (2002), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban (2006), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản của Diệp Quang Ban (2009),… Diệp Quang Ban (2009) đã đưa ra định nghĩa về phân tích diễn ngôn là: Hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc).158) Theo cách giải thích của tác giả thì phân tích diễn ngôn gồm ba yếu tố quan trọng: + Đối tượng khảo sát: là tài liệu ngôn ngữ nói, viết bậc trên của câu (đó là diễn ngôn, văn bản). + Đối tượng nghiên cứu: là tính đa diện hiện thực của tài liệu ngôn ngữ.
6 “Although the main focus of discourse analysis is on language, it is not concerned with language alone. It also examines the context of communication: who is communicating with whom and why; in what kind of society and situation; through what medium; how different types and acts of communication evolved, and their relationship to each other”. 17 + Phương pháp tiếp cận: phân tích ngôn ngữ trong sử dụng, đó là ý nghĩa của từ ngữ trong văn bản (khi xét trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và với ngữ cảnh bên ngoài), các hiện tượng thuộc liên kết giữa các từ ngữ trong văn bản và những cái hữu quan bên ngoài văn bản được thể hiện qua khái niệm ngữ vực. Nhìn chung, phân tích diễn ngôn là xem xét diễn ngôn trong một bối cảnh xã hội nhất định rồi từ đó khám phá ra mối quan hệ giữa cấu trúc diễn ngôn với chức năng diễn ngôn trong sự tương tác với bối cảnh xã hội ấy.
Trong quá trình tiến hành phân tích diễn ngôn, người nghiên cứu cần quan tâm đến chức năng hoặc mục đích của mẫu dữ liệu ngôn ngữ, cách thức mà dữ liệu ngôn ngữ này được người phát và người nhận xử lý. Nói cách khác, người nghiên cứu cần tìm hiểu nội dung thông điệp được thể hiện bằng chất liệu ngôn ngữ có đặc điểm gì, được tạo ra bằng cách thức nào để đạt được mục đích, ý đồ tác động tới người tiếp nhận trong bối cảnh xã hội thực tế, xác định nội dung thông điệp được tiếp nhận theo cách nào, trong tương tác với văn hóa, xã hội, tâm lý ra sao. b) Các đường hướng phân tích diễn ngôn Hiện nay, có nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn và các đường hướng chính đã được tác giả Nguyễn Hòa trình bày trong công trình Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lí luận và phương pháp. Theo đó, các đường hướng phân tích diễn ngôn thường gặp là: + Đường hướng dụng học; + Đường hướng biến đổi ngôn ngữ; + Đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; + Đường hướng dân tộc học giao tiếp; + Đường hướng phân tích hội thoại; + Đường hướng phân tích diễn ngôn trong tâm lý học xã hội; + Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán; + Đường hướng giao tiếp liên văn hóa; + Đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp; + Đường hướng phân tích diễn ngôn dựa vào lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống; 18 Nhìn chung, các đường hướng phân tích diễn ngôn được Nguyễn Hòa nêu đều coi ngôn ngữ như một công cụ của quá trình tương tác tạo nghĩa.
Trong phân tích diễn ngôn, các đường hướng này sẽ giúp người nghiên cứu tìm ra được mối quan hệ giữa cấu trúc với chức năng, văn bản với ngữ cảnh, diễn ngôn với giao tiếp. Tùy theo diễn ngôn mà các nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn đường hướng phân tích diễn ngôn phù hợp. Trong số các đường hướng phân tích diễn ngôn thì phân tích diễn ngôn dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống được dùng phổ biến hơn cả. Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar) chịu ảnh hưởng của trường phái ngữ cảnh luận Luân Đôn với đại diện tiêu biểu là Firth, Malinowski.
Trong đó, hệ thống có thể hiểu là mạng lưới những sự lựa chọn có liên quan với nhau trong việc tạo nghĩa. Chức năng là việc sử dụng ngôn ngữ, trong phân tích diễn ngôn thì nghiên cứu chức năng là nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh thực tế. Có thể nói, lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống xét ngôn ngữ ở mặt chức năng và xem ngôn ngữ có hệ thống. Lý thuyết này nghiên cứu việc tạo nghĩa qua sự lựa chọn hệ thống từ ngữ, ngữ pháp trong tình huống văn hóa xã hội cụ thể.
Ngôn ngữ được xem là một phương tiện để thực hiện các chức năng xã hội và là hệ thống phát triển cùng sự phát triển của văn hóa xã hội. Ưu điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống là có thể phản ánh khía cạnh xã hội cũng như tính động của ngôn ngữ, bởi lúc này ngôn ngữ được đặt trong một bối cảnh xã hội cụ thể và nghiên cứu sự hành chức của ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday coi ngôn ngữ như một nguồn lực tạo nghĩa. Ngôn ngữ tiến hóa và có được những cấu trúc khác nhau, từ đây làm cơ sở để ta biểu đạt nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản.
Vì thế, phân tích diễn ngôn theo đường hướng ngữ pháp chức năng hệ thống là xem xét ngôn ngữ khi thực hiện ba siêu chức năng, đó là: + Siêu chức năng kinh nghiệm (experiential metafunctions): thể hiện kinh nghiệm phản ánh thế giới và hiện thực. + Siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunctions): thể hiện mối quan hệ của những người tham gia giao tiếp.