ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Dưa chuột (tên khoa học Cucumis sativus) (miền Nam gọi là dưa leo) là một cây trồng phổ biến trong họ bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm của nhiều nước. Dưa chuột là một thức ăn rất thông dụng và còn là một vị thuốc có giá trị. Một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một số giống dưa chuột đang trồng phổ biển ở vùng Đông bằng sông Hồng như sau: chất khô 4-7%, đường tổng số: 1,75- 2,19% ; vitaminC: 5-6,25mg% (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, 2000).
Trước đây dưa chuột được dùng như loại quả tươi để giải khát là chủ yếu. Khi thị trường trong nước và thế giới được mở rộng, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú thì việc đa dạng hoá cách sử dụng là tất yếu. Ngày nay dưa chuột được sử dụng rộng rãi trong bữa ăn thường nhật dưới dạng quả tươi, sào, trộn salat, cắt lát, muối chua, đóng hộp, v. Dưa chuột còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng.
Vì vậy giống dưa chuột cũng phải đa dạng và phong phú để phù hợp với những yêu cầu khác nhau như giống chuyên dùng cho chế biến, giống dùng để ăn tươi. Hiện nay với khoa học kĩ thuật phát triển người dân có thể trồng dưa chuột nhiều vụ trong năm nhờ trồng trong nhà có mái che (nhà lưới, nhà kính, nhà màng.) có thể tránh được các tác nhân như gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây như mưa, bão, giá rét, sương muối, côn trùng, sâu bệnh hại gây bệnh. Một yếu tố quan trọng cấu thành năng suất dưa chuột đó là giống ưa chuột, ở nước ta có rất nhiều giống dưa chuột như giống lai, nhập nội, giống bản địa.Tuy nhiên chất lượng và năng suất các giống dưa chuột thấp và không ổn định. Vì vậy đánh giá các đặc tính sinh trưởng, phát triển cây dưa chuột hiện nay là cấp thiết, mang tính khoa học và thực tiễn.
1 Thị trấn Xuân Mai nói riêng và huyện Chương Mỹ nói chung có diện tích trồng rau khá lớn, diện tích dưa chuột được trồng nhều. Do vậy việc chọn tạo các giống dưa chuột phù hợp với điều kiện khí hậu tự nhiên và cho chất lượng, năng suất cao là vô cùng cần thiết. Nhằm phát triển các giống dưa chuột và xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống dưa chuột vụ đông trong nhà có mái che năm 2022 tại Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội ”. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng các giống dưa chuột thí nghiệm. - Lựa chọn giống có khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao, trong điều kiện vụ đông. Đối tượng phạm vi nghiên cứu - Phạm vi: Vụ đông 2022 tại vườn thực nghiệm trường Đại học Lâm nghiệp. - Giới hạn nghiên cứu: + Giống: 3 giống dưa chuột nếp Tân Lạc (ĐC), VIC19, nếp Hàn Quốc.
- Điều kiện nghiên cứu: Trong nhà có mái che. 2 PHẦN 2 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm thực vật học cây dưa chuột 2. Nguồn gốc Dưa chuột là loại rau truyền thống.
Nhiều tài liệu cho biết dưa chuột có nguồn gốc ở miền tây Ấn Độ. Cũng có ý kiến cho rằng dưa chuột còn có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng trọt khoảng 3000 năm nay. Dưa chuột được đưa đến một số vùng phía Tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu. Dưa chuột được giới thiệu ở Trung Quốc rất sớm có thể 100 năm hoặc hơn trước công nguyên.
Trong giai đoạn Roma dưa chuột có giá trị và phát triển phương pháp trồng dưới mái che. Charlemagne đã trồng dưa chuột, và thế kỷ 13 dưa chuột được đưa đến nước Anh. Columbus đã gieo và trồng những cây dưa chuột ở Haiti trong chuyến du lịch đường biển lần thứ 2 của ông. Người Tây Ban Nha đã phát hiện ra cây dưa chuột của địa phương trong thời gian bọn thực dân thống trị lâu dài ở thế kỷ 16.
Vì khí hậu ở nước Anh rất khắc nghiệt (xứ sở của xương mù) và sự mẫn cảm của dưa chuột với nhiệt độ, người Anh đã sáng tạo ra phương pháp trồng dưa chuột không hạt trong nhà kính. Ở Trung Đông phổ biến là dạng quả niềm và nhân. Người Liên Xô thích dạng quá ngắn, mập, sù sì. Người Pháp thích dạng quả mập và hình dạng không theo quy luật nào (Tạ Thu Cúc và cộng sự, 2000).
Ở nước ta, dưa chuột được trồng từ rất lâu, có thể trồng được ở nhiều vùng trên cả nước nhưng chủ yếu được trồng nhiều ở đồng bằng và vùng núi phía bắc. Phân loại Dưa chuột thuộc chi Cucumis, loài C. Đã có nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa chuột, trong đó Teachenko (1967) đã phân loại 3 Cucumis sativus L. thành 3 thứ: dưa chuột thường, dưa chuột lưỡng tính và dưa chuột hoang dại,.
Libner Nonneck (1989) thì Cucumis sativus L chỉ là một dạng hình của dưa chuột, là cây rau thương mại quan trọng. Những cây khác cũng được gọi là dưa chuột như : C. prophetarum ; dưa chuột trắng Trung Quốc Vard. conomon hoặc dưa chuột sao : Siryos angulatus (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, 2000).
George (1989) dưa chuột có nhiều dạng hình, hình dạng và kích cỡ quả phong phú. Loài trồng trọt có thể chia thành 4 nhóm chính: - Dưa chuột sản xuất ngoài đồng với đặc điểm nổi bật là gai trắng hoặc đen. - Dưa chuột trồng trong nhà kính hoặc như giống dưa chuột Anh. Những dụng hình này quá dài, không có gai, có thể sản xuất quả đơn tính.
- Giống Sik Kim nguồn gốc ở Ấn Độ, quả có mẫu hơi đỏ hoặc vàng da cam. - Dưa chuột quả nhỏ dùng để dầm dấm, muối chua. Dưa chuột còn được phân loại theo cách sử dụng : cắt lát, hoặc muối chua (ăn tươi hoặc chế biến). Basett (1986) thì dưa chuột dùng để muối chua tỷ lệ chiếu đài/đường kính (L/D) phải nhỏ hơn dựa chuột dùng để thái lát.
L/D của dưa chuột muối chua từ 2,8-3,2. Tỷ lệ này thay đổi theo mật độ trồng. Dưa chuột dùng để muối chua phải thắng tròn, hình khối (Tạ Thu Cúc và cộng sự, 2000). Đặc điểm thực vật học của dưa chuột a) Rễ Dưa chuột có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm ướt nên rễ cây dưa chuột nhìn chung yếu hơn rễ của các cây bí ngô, dưa hấu và dưa thơm.
Hệ rễ ưa ẩm, không chịu khô hạn, cũng không chịu ngập úng. 4 Hệ rễ của dưa chuột có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m, rễ nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai. Hệ rễ về phân bố ở tầng đất từ 0-30cm, nhưng hầu hết rễ tập trung ở tầng đất 15-20 cm. Sau mọc 5-6 ngày rễ phụ phát triển, thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu.
Khả năng sinh trưởng mạnh, yếu phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ, độ ẩm đất và thời gian bảo quản hạt giống. Thời kỳ cây con khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận kém, nếu cây bị hạn hoặc úng, nồng độ chất dinh dưỡng cao, hệ rễ sẽ bị khô đen và bị thối. Rễ phát triển kém sẽ ảnh hưởng đến bộ phận trên mặt đất, thân bé nhỏ sinh trưởng kém (Tạ Thu Cúc và cộng sự, 2000). b) Thân Thân cây dưa chuột thuộc loại leo bò, thân mảnh, nhỏ, chiều cao thân phụ thuộc chủ yếu vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc.
Căn cứ vào chiều cao cây có thể phân chia thành 3 nhóm: Loại lùn chiều cao cây từ 0,6-1m. Loại trung bình chiều cao cây. Loại cao chiều cao cây >1,5 đến 2-3m, có loại tới 4-5m. Trên thân có cạnh, có lông cứng và ngắn, đường kính thân là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá tình hình sinh trưởng của cây, đường kính thân quá nhỏ hoặc quá lớn đều không có lợi.
Đối với những giống trung bình và giống muộn đường kính đạt gần lcm là cây sinh trưởng tốt. Trên thân chính có khả năng phân cành cấp 1 và cành cấp 2, quả ra chủ yếu trên thần chính. Trong kỹ thuật tỉa cành lưu giữ thân chính và 1-2 cành cấp 1, tuỳ theo điều kiện cụ thể (Tạ Thu Cúc và cộng sự, 2000). c) Lá Lá dưa chuột gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục thân.
Lá mầm có hình trứng và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây. Người trồng dưa thường quan tâm tới độ lớn, sự cân đối và thời gian duy trì lá mầm trên cây dài hay ngắn. 5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 2 lá mầm là chất lượng giống, khối lượng hạt giống to hay nhỏ, chất dinh dưỡng trong đất, độ ẩm đất và nhiệt độ, nhiệt độ quá thấp sẽ làm cho lá bị co rút lại. Lá thật có 5 cánh, chia thùy nhọn hoặc có dạng chân vịt; có dạng lá tròn trên lá có lông cứng, ngắn.
Mẫu sắc lá thay đổi theo giống xanh vàng hoặc xanh thẫm (Tạ Thu Cúc và cộng sự, 2000). d) Hoa Hoa dưa chuột có màu vàng đường kính từ 2-3cm. Tính đực cái của hoa dưa chuột biểu hiện rất phong phú. Đó là dạng cây có hoa đơn tính cùng gốc (monoecious), hoa đực và hoa cái trên cùng một cây.
Dạng hình khác là trên cây chỉ có hoa cái (gynoecious), hoặc đôi khi xuất hiện dạng hình đơn tính khác gốc (dioecious), đó là trên cây tất cả là hoa đực hoặc tất cả là hoa cái. Trong quá trình phát triển, dưa chuột còn sản sinh ra dạng hình hoa cái và hoa lưỡng tính cùng gốc (gynomonoecious). Dạng hình cơ bản vẫn là trên cây có hoa cái hoặc cây có tập tính ra hoa cái nhưng mang thêm một số hoa lưỡng tính. Tuy vậy hoa của dưa chuột chủ yếu là hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực hoa cái trên cùng một cây, nhưng hoa cái chiếm ưu thế.
Thực tế trên đồng ruộng hiếm thấy có một quần thể dưa chuột trên cây chỉ có hoa cái. Vì vậy dạng hình đơn tính cùng gốc (gynoccious) nên hiểu là trên cây hoa cái chiếm ưu thế nhưng cũng có một số hoa đực. Hoa đực mọc thành chùm ở nách lá, hoa mọc những vị trí cao hơn hóa đực, hoa cái có cuống ngắn và mập hơn hoa đực. Hoa dưa chuột thụ phấn nhờ còn trùng (ong mật) trừ những hoa là hoa lưỡng tính.
Dưa chuột không thể giao phấn với dưa thơm (C.