Tổng quan luận án
Vấn đề giới tính và phái tính có ý nghĩa xã hội học quan trọng, chi phối nhiều mặt đời sống kinh tế, chính trị, lịch sử và văn hóa. Tại Việt Nam, nhiều công trình xã hội học, tâm lý học, văn hóa học và phê bình văn học đã tiếp cận vấn đề này nhưng chủ yếu tập trung vào nữ giới, thực trạng bất bình đẳng giới và trào lưu nữ quyền trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, lý thuyết giới không đồng nhất hoàn toàn với lý thuyết nữ quyền. Việc tiếp cận một giai đoạn văn học từ các chiều kích đa dạng của lý thuyết giới, đặc biệt là lý thuyết diễn ngôn, là hướng đi cần thiết nhằm giải mã các mã giới tính ẩn chìm trong văn bản.
Văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là thời kỳ kết tinh thành tựu đặc sắc. Khác với dòng văn học mang tính "ngôn chí" đậm tính phụ quyền ở các thế kỷ trước, giai đoạn này chứng kiến sự xuất hiện nổi bật của hình tượng người phụ nữ và tiếng nói của các tác giả nữ, chi phối tư tưởng nhân đạo và cảm thương. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi tiếp cận toàn diện giai đoạn văn học này dưới góc độ diễn ngôn giới tính, phái tính, cấu trúc nam tính - nữ tính và các thiết chế quyền lực chi phối.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý thuyết giới như diễn ngôn giới, diễn ngôn nam tính - nữ tính, sự giao cắt giữa các loại diễn ngôn trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu; từ đó chỉ ra quan niệm mới về con người và các thiết chế quyền lực chi phối quan niệm đó.
Luận án thực hiện 2 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Tổng hợp, hệ thống hóa các hướng tiếp cận văn học Việt Nam từ lý thuyết giới qua các công trình trong và ngoài nước; xác lập khung lý thuyết về diễn ngôn, giới tính (sex) và phái tính (gender) làm căn cứ triển khai.
- Nhiệm vụ 2: Triển khai phân tích diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính và sự hoán vị, dịch chuyển giữa hai loại diễn ngôn này trong văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.
Đối tượng nghiên cứu là văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX dưới góc độ giới, tập trung vào các diễn ngôn giới tính, phái tính và tác động của các thiết chế quyền lực đối với tư tưởng nghệ thuật, xây dựng hình tượng.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Các sáng tác văn học thuộc thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
- Phạm vi tư liệu: Tập trung khảo sát các tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã được công bố và dịch thuật như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái... Các tác giả, tác phẩm khác được sử dụng làm tư liệu so sánh, đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trước đây theo từng nhóm khuynh hướng và ngôn ngữ tư liệu:
1. Các nghiên cứu bằng tiếng Việt
| Hướng tiếp cận |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Luận điểm chính được điểm lại |
| Hình tượng người phụ nữ và tính nữ |
- Phan Ngọc (1965), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều - Trần Thị Băng Thanh (1978) - Phạm Tú Châu (1978) - Nguyễn Thị Chiến (1993) - Đặng Tiến, Phạm Văn Hưng |
- Phan Ngọc chỉ ra trước thời Lê mạt văn học "hầu như không có đàn bà", đến thời Lê mạt người phụ nữ trở thành trung tâm chi phối. - Trần Thị Băng Thanh chỉ ra sự đa dạng thân phận phụ nữ và tinh thần "xét lại" lịch sử (Huyền Trân, Điểm Bích). - Phạm Tú Châu phân tích địa vị phụ thuộc, là "con bài trên ván cờ của nam giới" của phụ nữ trong Hoàng Lê nhất thống chí. - Nguyễn Thị Chiến khảo sát sự phát triển nhân vật nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân. - Đặng Tiến phân tích chất nữ tính qua ngôn từ trang nhã và biểu tượng cây cối (tàu chuối, ngàn mai, dặm liễu) ở thơ Bà Huyện Thanh Quan. |
| Lý thuyết nữ quyền (Feminism) |
- Bùi Thị Thiên Thai - Nguyễn Thị Hưởng (2016) - Trần Ngọc Hiếu - Phạm Thị Thuận (2014) - Phùng Gia Thế, Trần Thiện Khanh (2016, tuyển tập) - Trần Nho Thìn |
- Bùi Thị Thiên Thai nhìn nhận Truyền kỳ tân phả từ văn học nữ quyền. - Nguyễn Thị Hưởng chỉ ra thơ nữ trung đại là những "dòng chảy nghịch" của xã hội nam quyền. - Trần Ngọc Hiếu đề cập tự sự học nữ quyền luận (Susan Lanser), hiện tượng mượn giọng nữ và quá trình phái tính hóa tác giả. - Trần Nho Thìn chỉ ra tiềm năng nữ quyền trong Nho giáo và sự bộc lộ quyền sống, bản năng ở thơ Hồ Xuân Hương. |
| Cấu trúc nam tính – nữ tính |
- Trần Văn Toàn - Mai Thu Huyền |
- Vận dụng nghiên cứu của Kam Louie về cấu trúc nam tính Trung Quốc truyền thống dựa trên cặp thuộc tính văn (wen) – võ (wu). - Chỉ ra vị trí của mẫu hình kẻ sĩ "năng văn" trong văn hóa Việt Nam, sự khác biệt so với mẫu hình nam tính cơ bắp phương Tây. |
| Văn hóa tính dục và Phân tâm học |
- Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Đăng Thục, Đàm Quang Thiện (trước 1975) - Trương Tửu (1942) - Đỗ Lai Thúy (thập niên 90) - Phạm Văn Hưng (2018) |
- Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh ứng dụng phân tâm học Freud xem thơ Hồ Xuân Hương là sự thăng hoa của "con dục". - Trương Tửu ứng dụng phê bình văn hóa - lịch sử của Taine. - Đỗ Lai Thúy ứng dụng lý thuyết Jung gắn dâm tục với tín ngưỡng phồn thực. - Phạm Văn Hưng khảo cứu lịch sử tính dục qua tư liệu lịch sử và văn học thế kỷ X - XIX. |
| Lý thuyết lệch pha (Queer theory) và Hư cấu giọng |
- Trần Ngọc Hiếu - Lại Nguyên Ân (2010) - Trần Nho Thìn - Tạ Thị Thanh Huyền (2011, 2012) - Hoàng Thị Kim Dung (2014) |
- Trần Ngọc Hiếu vận dụng khái niệm queer, chỉ ra sự vô hình hóa phụ nữ trong tích Lưu Bình - Dương Lễ. - Lại Nguyên Ân đề xuất khái niệm "mặt nạ tác giả" khi tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương. - Trần Nho Thìn phân tích hiện tượng ventriloquism (hư cấu giọng nữ) và hình thức đối phó cấm kỵ tính dục trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều. - Tạ Thị Thanh Huyền phân tích việc mượn giọng nữ như hình thức ngụy trang để vượt ranh giới giới tính. |
2. Các nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài
Nhiều học giả quốc tế đã khảo sát các tác giả, tác phẩm cụ thể của giai đoạn này:
- Cong Huyen Ton Nu Nha Trang (1973): The traditional roles of women as reflected in oral and written Vietnamese literature, The Makings of the National Heroine A Prescriptive Reconstruction.
- Wendy N. Duong: Gender Equality and Women's Issues in Vietnam: The Vietnamese Woman—Warrior and Poet.
- Wynn Wilcox: Women and Mythology in Vietnamese History: Le Ngoc Han, Ho Xuan Huong, and the Production of Historical Continuity in Vietnam (nghiên cứu tính liên tục của huyền thoại về Lê Ngọc Hân và Hồ Xuân Hương trong kiến tạo căn cước).
- Olga Dror: Cult, Culture, and Authority: Princess Lieu Hanh in Vietnamese History (giải thiêng hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh).
- Mariam B. Lam: Truyện Kiều dưới góc nhìn văn học nữ quyền (xem xét sự lưu giữ và viết lại giá trị dân tộc trên hình ảnh phụ nữ).
- Nathalie Uyen: Nữ chính kinh điển và hóa thân thời hiện đại: Truyện Kiều và những tương đồng trong Printemps Inachevé.
- Rachel Carpenter: Heroinification: Constructing the Heroine, Perspectives from Vietnam and China.
3. Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo từng trường hợp tác phẩm riêng lẻ (case study), tập trung phần lớn vào hình tượng phụ nữ hoặc lý thuyết nữ quyền. Cấu trúc nam tính, sự chuyển di, giao cắt giữa diễn ngôn nam tính và nữ tính, cũng như phương pháp tiếp cận diễn ngôn một cách hệ thống cho toàn bộ giai đoạn văn học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX vẫn chưa được khảo sát đầy đủ. Luận án chọn hướng đi tiếp cận toàn diện giai đoạn này dưới sự soi chiếu của lý thuyết diễn ngôn giới và cấu trúc nam tính - nữ tính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án xác lập hệ thống khái niệm nền tảng từ các lý thuyết hiện đại:
- Giới tính (sex) và Phái tính/Giới (gender): Giới tính (sex) chỉ đặc điểm sinh học bẩm sinh, giải phẫu học. Giới/Phái tính (gender) là khái niệm do John Money đề xuất năm 1955 và được các nhà nữ quyền phát triển từ thập niên 70 thế kỷ XX, chỉ các đặc tính văn hóa - xã hội được kiến tạo, có tính khả biến theo lịch sử. Luận án kế thừa quan điểm của Judith Butler (Gender Trouble, 1990; Bodies That Matter, 1993), Jacques Lacan, Julia Kristeva, Luce Irigaray.
- Lý thuyết diễn ngôn và Diễn ngôn tính dục của Michel Foucault: Diễn ngôn không thuần túy là phương tiện phản ánh hiện thực mà là hệ thống quy tắc, cấu trúc tạo ra phát ngôn chịu sự chi phối của thiết chế và quyền lực (dẫn giải qua Sara Mills). Tính dục là một kiến tạo lịch sử (historical construct) nảy sinh từ các diễn ngôn quy phạm.
- Sự thống trị của nam giới (Pierre Bourdieu): Trật tự xã hội vận hành như một cỗ máy biểu trưng, áp đặt cái nhìn nam tâm làm trung tính; nữ giới bị cấu tạo thành "thực thể được tri giác" (percipi), phụ thuộc vào cái nhìn của nam giới.
- Lý thuyết về Nam tính (Masculinities) và Nam tính bá quyền (Hegemonic Masculinity): Phát triển từ R. Connell (1995) và Jeff Hearn (1992). Nam tính là tập hợp các thực hành xã hội về cách làm đàn ông, luôn biến đổi và mang tính số nhiều (masculinities).
- Mô hình Nam tính Văn – Võ (Wen – Wu): Kế thừa nghiên cứu của Kam Louie, Louise Edwards và Martin Huang về cấu trúc nhị phân văn hóa - thể chất của nam giới trong văn hóa Đông Á.
- Thuyết lệch pha (Queer theory) và Hư cấu giọng (Ventriloquism): Ứng dụng để phân tích hiện tượng mượn giọng, mặt nạ tác giả, các biểu hiện xuyên giới tính trong văn học.
- Khái niệm Điển phạm (Canon): Khảo sát quá trình điển phạm hóa qua 3 chặng lịch sử văn học Việt Nam (thế kỷ XV, nửa cuối XVIII - nửa đầu XIX, thế kỷ XX).
2. Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp các phương pháp chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp góc nhìn văn học và văn hóa học nhằm soi chiếu sự hình thành quan niệm giới trong mối liên hệ với các thiết chế xã hội.
- Phương pháp lịch sử: Đặt các hiện tượng văn học vào tiến trình lịch sử và bối cảnh xã hội trung đại để nhận diện tính kế thừa và biến đổi.
- Phương pháp loại hình: Phân loại các loại hình diễn ngôn, cấu trúc nam tính - nữ tính, kiểu tác giả và kiểu hình tượng nhân vật.
- Nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát chuyên sâu các văn bản tiêu biểu của Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái...
- Các thao tác bổ trợ: Phân tích văn bản, giải thích, chứng minh, so sánh, hệ thống hóa và mô hình hóa.
Nguồn tư liệu là các văn bản Hán Nôm và bản dịch chữ Quốc ngữ đã được công bố chính thức của văn học Việt Nam trung đại.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án triển khai nội dung chính qua 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài
Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề giới trong văn học Việt Nam trung đại từ các nguồn tài liệu tiếng Việt và tài liệu nước ngoài. Tác giả giới thuyết hệ thống khái niệm công cụ: giới tính sinh học (sex), giới tính xã hội/phái tính (gender), diễn ngôn (discourse), diễn ngôn giới, diễn ngôn tính dục, nam tính bá quyền, cấu trúc văn - võ, lý thuyết queer. Chương 1 cũng phân tích bối cảnh lịch sử, văn hóa, sự phát triển của các thể loại văn học (truyện thơ Nôm, ngâm khúc, hát nói, tiểu thuyết chương hồi) và trào lưu nhân đạo chủ nghĩa thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX như là điều kiện nảy sinh các diễn ngôn mới về con người cá nhân.
Chương 2: Quan niệm về nam giới và nam tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 2 tập trung phân tích sự tự kiến tạo và khắc họa hình tượng nam giới trong văn học:
-
Sự duy trì cấu trúc nam tính lý tưởng theo quan niệm Nho giáo: Các nhân vật nam giới được miêu tả bằng hệ thống biểu tượng dương tính (lượng cả, đông quân, chúa xuân, anh hùng, bóng dương, mặt trời, cửu trùng, quân tử, đấng, bậc), đối lập với các biểu tượng âm tính, tự hạ thấp của nhân vật nữ (dây cát, sắn bìm, hang sâu, dấu bèo, nhị rữa hoa tàn).
- Trong Cung oán ngâm khúc, mối quan hệ giữa quân vương và cung nữ mang tính bất cân xứng quyền lực tuyệt đối.
- Trong Chinh phụ ngâm khúc, người chinh phu được lý tưởng hóa bằng vẻ đẹp tráng sĩ và bổn phận trượng phu.
- Trong Truyện Kiều, Kim Trọng và Vương Quan tuân thủ chuẩn mực thi cử bảng vàng; Thúc Sinh tuân thủ tôn ti gia phong trước Hoạn Thư.
- Trong Hoàng Lê nhất thống chí, các chi tiết về Lê Cảnh Hưng và Lê Chiêu Thống vẫn giữ công thức miêu tả dung mạo đế vương Nho giáo.
-
Nam giới là chủ thể kiến tạo tri thức và quá trình điển phạm hóa: Nam giới tầng lớp trên nắm độc quyền giáo dục, sáng tác và phê bình. Tiếng nói của tác giả nữ bị gạt ra khỏi các làn sóng điển phạm hóa trung đại. Trong các tác phẩm viết về phụ nữ (Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc), tác giả nam giới đóng vai trò người kể chuyện dị sự, sử dụng nhãn quan nam giới để nói thay, kể thay nhân vật nữ.
-
Khắc họa chân dung nam giới bằng phương thức tự thuật: Khảo sát sự bộc lộ con người cá nhân qua thơ tự thuật:
- Nguyễn Du: Thống kê cho thấy có 107 bài thơ tự thuật. Tác giả có khoảng 20 lần viết trực tiếp về chữ "thân", khoảng 30 lần miêu tả trạng thái hao gầy, tiều tụy (nhan trạng, nhan thời sấu, suy nhan, truân cốt tướng, lão sấu, lão bệnh dư, lưu bì cốt), và 45 lần tự họa bằng hình ảnh đầu bạc (bạch phát, bạch đầu, phát đoản..., riêng Thanh Hiên thi tập chiếm 23 lần, tương đương 51%). Nguyễn Du bộc lộ nỗi thương thân, xót thân trong không gian lưu lạc và thời gian ngưng đọng.
- Nguyễn Công Trứ: Khắc họa cái tôi động, nhập thế, ngạo nghễ, tự tin khẳng định "chí làm trai" và "nợ tang bồng" trong tương quan vũ trụ.
- Phạm Thái, Cao Bá Quát: Khắc họa cái tôi phóng túng, cô độc hoặc khủng hoảng trước thời cuộc.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| SỰ PHÂN HÓA DIỄN NGÔN GIỚI TRONG VĂN BẢN |
+------------------------------------+----------------------------------------+
| NAM GIỚI / BIỂU TƯỢNG DƯƠNG TÍNH | NỮ GIỚI / BIỂU TƯỢNG ÂM TÍNH |
+------------------------------------+----------------------------------------+
| - Biểu tượng: Đông quân, chúa | - Biểu tượng: Dây cát, sắn bìm, hang |
| xuân, bóng dương, mặt trời, đấng | sâu, nhị rữa hoa tàn, dấu bèo... |
| anh hào, quân tử, cửu trùng... | |
| - Vị thế: Chủ thể quyền lực, ban | - Vị thế: Đối tượng thụ nhận, lệ thuộc |
| phát ân huệ, thực hiện bổn phận | tượng trưng, tự khiêm hạ giá. |
| trượng phu, chiếm bảng rồng. | |
| - Tự thuật: Thân xác suy mòn do | - Thân phận: Chịu chia cắt, lưu lạc, |
| thời cuộc nhưng chí tâm bảo toàn | bị tước đoạt tiếng nói trực tiếp. |
| (Nguyễn Du) hoặc hành động ngạo | |
| nghễ nhập thế (Nguyễn Công Trứ). | |
+------------------------------------+----------------------------------------+
Chương 3: Quan niệm về nữ giới và nữ tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Chương này đi sâu khảo sát quá trình kiến tạo hình tượng người phụ nữ và diễn ngôn nữ tính. Nội dung tập trung vào sự chuyển dịch từ mẫu hình phụ nữ chức năng đạo đức (liệt nữ) sang những con người đời thường với số phận éo le, bi kịch và khát vọng hạnh phúc. Phân tích tiếng nói tự biểu hiện và ý thức nữ quyền sơ khởi qua sáng tác của các tác giả nữ tiêu biểu (Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan) và cách các tác giả nam giới kiến tạo tính nữ trong tác phẩm của mình.
Chương 4: Một số hiện tượng văn hóa tính dục đặc biệt và thủ pháp biểu đạt giới đặc thù
Chương này phân tích các hiện tượng giao cắt và thủ pháp nghệ thuật thể hiện giới:
- Hiện tượng cấm kỵ và cơ chế đối phó cấm kỵ về tính dục trong văn hóa trung đại.
- Thủ pháp hư cấu giọng nữ (ventriloquism): Tác giả nam mượn giọng nhân vật nữ trong các khúc ngâm (Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc) để biểu đạt những cảm xúc tính dục và thân thể vốn bị Nho giáo ngăn cấm ở nam giới.
- Hiện tượng "mặt nạ tác giả" và vấn đề dâm - tục trong thơ truyền tụng Hồ Xuân Hương.
- Hiện tượng mượn cốt truyện nước ngoài để hợp thức hóa việc miêu tả thân xác và dục tính (như trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du).
- Các biểu hiện của lý thuyết lệch pha (queer), hoán vị giới tính và tính chất trình diễn (performance) của giới trong văn học.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp mới về mặt lý luận
- Đặt vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống về giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn, vượt qua giới hạn của hướng tiếp cận xã hội học lịch sử và phê bình nữ quyền đơn thuần.
- Làm rõ tính khả biến, tính tạo tác của các khái niệm nam tính, nữ tính, diễn ngôn giới và diễn ngôn tính dục trong bối cảnh văn hóa trung đại Việt Nam.
- Khẳng định khả năng ứng dụng các lý thuyết hiện đại (diễn ngôn Foucault, nam tính Connell, cấu trúc văn - võ Kam Louie, tự sự học nữ quyền, lý thuyết queer) vào việc giải mã văn học trung đại.
2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khám phá toàn diện các bình diện: quan niệm và hình dung về nam giới/nữ giới, cấu trúc nam tính/nữ tính, hiện tượng văn hóa tính dục và các thủ pháp biểu đạt giới đặc thù (ventriloquism, mặt nạ tác giả).
- Làm nổi bật sự biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người của giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX so với các giai đoạn văn học trung đại trước đó.
- Cung cấp khung phương pháp luận và nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu liên ngành, cũng như công tác giảng dạy các tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do khối lượng trước tác của giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX rất đồ sộ và một số nguồn văn bản Hán Nôm còn nằm ngoài khả năng tiếp cận trực tiếp, luận án chỉ tập trung vào phương thức nghiên cứu trường hợp (case study) thông qua các tác phẩm tiêu biểu đã được dịch thuật và công bố chính thức, chưa thể bao quát toàn bộ di sản văn bản học của thời kỳ này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tác giả, tác phẩm ít được chú ý hơn thuộc khu vực văn học ngoại biên, văn học dân gian; tiếp tục vận dụng lý thuyết diễn ngôn giới để khảo sát các giai đoạn văn học trung đại khác nhằm xây dựng bức tranh toàn diện về tiến trình vận động của ý thức giới trong văn học dân tộc.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Cung cấp khung lý thuyết chi tiết về nghiên cứu giới, lý thuyết diễn ngôn và phương pháp ứng dụng lý thuyết hiện đại vào nghiên cứu văn học cổ trung đại.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu văn học: Cung cấp góc nhìn bổ trợ khi phân tích các tác giả, tác phẩm kinh điển của văn học trung đại Việt Nam (Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, thơ Hồ Xuân Hương, thơ tự thuật Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ).
- Phần đáng tham khảo nhất:
- Khung lý thuyết về diễn ngôn, phái tính, nam tính bá quyền và cấu trúc văn - võ ở Chương 1.
- Dữ liệu phân tích thơ tự thuật chữ Hán của Nguyễn Du (khảo sát các tần số xuất hiện của chữ "thân", hình ảnh đầu bạc) ở Chương 2.
- Cơ chế giải mã thủ pháp hư cấu giọng nữ (ventriloquism) và hiện tượng đối phó cấm kỵ tính dục ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hai khái niệm "giới tính" (sex) và "phái tính/giới" (gender) như thế nào?
Theo luận án, giới tính (sex) chỉ các đặc trưng giải phẫu sinh học bẩm sinh, mang tính phổ quát giữa nam và nữ. Trong khi đó, phái tính/giới (gender) là khái niệm dùng để phân biệt nam và nữ dựa trên các đặc điểm văn hóa - xã hội. Phái tính là sản phẩm được kiến tạo, không bất biến mà thay đổi theo bối cảnh lịch sử và thiết chế quyền lực của từng thời đại.
2. Mô hình "văn - võ" (wen - wu) của Kam Louie được ứng dụng như thế nào trong luận án?
Luận án dẫn giải mô hình của Kam Louie để phân tích cấu trúc nam tính trong văn hóa Đông Á. Nam tính truyền thống được đặc trưng bởi hai thuộc tính: văn (văn chương, thành tựu tinh thần) và võ (thượng võ, thể chất). Ở Việt Nam, mẫu hình kẻ sĩ "năng văn" được đặt ở vị trí vượt trội so với "võ" trong việc xác lập hình ảnh người đàn ông lý tưởng và duy trì trật tự xã hội, khác với mẫu hình nam tính thuần túy cơ bắp của phương Tây.
3. Khái niệm "hư cấu giọng" (ventriloquism) giải thích hiện tượng gì trong văn học trung đại?
Khái niệm ventriloquism (được PGS. TS Trần Nho Thìn đề xuất) giải thích hiện tượng các tác giả nam giới mượn giọng nhân vật nữ trong các thể loại ngâm khúc (Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc). Đây là hình thức ngụy trang và đối phó với cấm kỵ văn hóa, giúp tác giả nam giới thoát khỏi những quy chuẩn khắt khe về nam tính Nho giáo để bộc lộ những xúc cảm thân xác, dục tính và nỗi niềm riêng tư.
4. Dữ liệu thống kê về thơ tự thuật của Nguyễn Du trong luận án cho thấy điều gì?
Dẫn theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương, luận án nêu rõ Nguyễn Du có 107 bài thơ tự thuật, khoảng 20 lần viết trực tiếp về chữ "thân", khoảng 30 lần miêu tả trạng thái hao gầy, tiều tụy và 45 lần sử dụng hình ảnh đầu bạc (riêng Thanh Hiên thi tập xuất hiện 23 lần, chiếm 51%). Điều này phản ánh sự chuyển hướng từ "tỏ chí" sang "tỏ lòng", khắc họa thân thể hữu hạn, đau bệnh của con người cá nhân trước biến thiên thời cuộc.
5. Vì sao tác giả chọn phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)?
Do số lượng tác phẩm và tác giả giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX rất phong phú, đồng thời có những tư liệu văn bản Hán Nôm nằm ngoài khả năng tiếp cận trực tiếp, tác giả chọn phương pháp nghiên cứu trường hợp trên các tác phẩm tiêu biểu đã được dịch thuật và công bố chính thức nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và chiều sâu phân tích.
Kết luận
Luận án Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX dưới góc độ giới là công trình nghiên cứu định tính tiếp cận văn học trung đại từ hệ thống lý thuyết diễn ngôn và nghiên cứu giới hiện đại. Luận án đã hệ thống hóa các biểu hiện của diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, cấu trúc văn - võ và các thủ pháp biểu đạt giới đặc thù như hư cấu giọng nữ hay đối phó cấm kỵ tính dục. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người cá nhân thời kỳ hậu kỳ trung đại và cung cấp tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam.