Luận án về giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX

Khám phá luận án về văn học Việt Nam thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX từ góc độ giới, phân tích vai trò và ảnh hưởng của giới tính.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
181
24
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1. Các tư liệu tiếng Việt nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX từ lý thuyết giới

1.1.2. Tiếp cận từ góc độ hình tượng người phụ nữ và tính nữ

1.1.3. Tiếp cận từ lý thuyết nữ quyền (nữ quyền luận)

1.2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp tiếp cận liên ngành

1.4.2. Phương pháp lịch sử

1.4.3. Phương pháp loại hình

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

1.6.1. Về mặt lý luận

1.6.2. Về mặt thực tiễn

1.7. Cấu trúc luận án

2. CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ NAM GIỚI VÀ NAM TÍNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

3. CHƯƠNG 3: QUAN NIỆM VỀ NỮ GIỚI VÀ NỮ TÍNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA TÍNH DỤC ĐẶC BIỆT VÀ THỦ PHÁP BIỂU ĐẠT GIỚI ĐẶC THÙ

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII XIX

Nghiên cứu về giới tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình trong cách nhìn nhận về vai trò của giới trong văn học. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện những quan niệm mới về giới tínhphái tính. Việc tìm hiểu các hình tượng nhân vật nữ và nam trong văn học thời kỳ này giúp làm rõ hơn những biến chuyển trong tư tưởng và nghệ thuật.

1.1. Tình hình nghiên cứu giới trong văn học Việt Nam

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giới tính trong văn học Việt Nam thường bị xem nhẹ. Tuy nhiên, một số tác giả đã bắt đầu khai thác sâu hơn về hình tượng người phụ nữ và những vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới trong xã hội phong kiến.

1.2. Những tác phẩm tiêu biểu về giới trong văn học

Các tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du hay thơ Hồ Xuân Hương đã thể hiện rõ nét những quan niệm về giới tínhphái tính. Những hình tượng này không chỉ phản ánh thực trạng xã hội mà còn mở ra những góc nhìn mới về nhân vật nữ trong văn học.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu giới ở văn học Việt Nam

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về giới tính trong văn học, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Việc phân tích diễn ngôn giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX cần phải được thực hiện một cách hệ thống và đa chiều. Các nhà nghiên cứu cần phải vượt qua những định kiến và khuôn mẫu cũ để có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của giới trong văn học.

2.1. Những định kiến trong nghiên cứu giới

Nhiều nghiên cứu vẫn còn dừng lại ở việc phân tích hình tượng người phụ nữ như một đối tượng yếu thế. Điều này dẫn đến việc bỏ qua những khía cạnh phức tạp hơn của giới tínhphái tính trong văn học.

2.2. Cần thiết phải có cách tiếp cận mới

Việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu văn học sẽ giúp làm rõ hơn những quan niệm về giớiphái tính. Cách tiếp cận này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các nhân vật mà còn phản ánh những biến chuyển trong tư tưởng xã hội.

III. Phương pháp nghiên cứu giới trong văn học Việt Nam

Để nghiên cứu giới tính trong văn học, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành. Phương pháp này sẽ giúp làm rõ hơn mối liên hệ giữa văn hóavăn học trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Việc sử dụng lý thuyết diễn ngôn sẽ tạo ra cái nhìn đa chiều hơn về giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX.

3.1. Phương pháp tiếp cận liên ngành

Phương pháp này cho phép kết hợp nhiều lĩnh vực khác nhau như xã hội học, văn hóa học và lý thuyết giới. Điều này giúp làm rõ hơn những quan niệm về giới trong văn học.

3.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phân tích diễn ngôn giúp nhận diện các cấu trúc giới tính trong văn học. Qua đó, có thể thấy được sự chuyển biến trong cách thể hiện nhân vật nữnhân vật nam trong các tác phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu giới trong văn học

Nghiên cứu về giới tính trong văn học không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học, giúp sinh viên và người học có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của giới trong văn học Việt Nam.

4.1. Giá trị trong giảng dạy văn học

Việc đưa các vấn đề về giới vào giảng dạy sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa của thời kỳ này. Điều này cũng giúp nâng cao nhận thức về bất bình đẳng giới trong văn học.

4.2. Khả năng ứng dụng trong nghiên cứu liên ngành

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, tâm lý học và văn hóa học. Điều này sẽ mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về giới trong văn học.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu giới trong văn học Việt Nam

Nghiên cứu về giới tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX đang mở ra nhiều triển vọng mới. Việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn và các phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp làm rõ hơn những quan niệm về giớiphái tính trong văn học. Điều này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao nhận thức về bất bình đẳng giới.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về giới trong văn học sẽ tiếp tục phát triển và mở rộng. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác những khía cạnh mới mẻ và đa dạng của giới tính trong văn học.

5.2. Tầm quan trọng của việc tiếp cận đa chiều

Việc tiếp cận đa chiều sẽ giúp làm rõ hơn những vấn đề phức tạp liên quan đến giớiphái tính. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu văn học tại Việt Nam.

17/07/2025
Luận án văn học việt nam thế kỷ xviii nửa đầu thế kỷ xix dưới góc độ giới

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài, Tài liệu tham khảo, nội dung chính được triển khai trên 4 chương: - Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài. - Chƣơng 2: Quan niệm về nam giới và nam tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. - Chƣơng 3: Quan niệm về nữ giới và nữ tính trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. - Chƣơng 4: Một số hiện tượng văn hóa tính dục đặc biệt và thủ pháp biểu đạt giới đặc thù.

5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Các tư liệu tiếng Việt nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX từ lý thuyết giới 1. Tiếp cận từ góc độ hình tượng người phụ nữ và tính nữ Có thể thấy một thực tế là khi nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu có xu hướng dành phần ưu ái những đối tượng có địa vị thấp kém, số phận bất hạnh, là đối tượng của bất công và áp bức xã hội trong thời đoạn loạn lạc rối ren của chế độ phong kiến.

Mà trong số ấy, đối tượng bị đè nén, trấn áp, chịu bất hạnh nhiều nhất chính là người phụ nữ. Do đó, nghiên cứu về chủ nghĩa nhân đạo, truyền thống cảm thương của văn học giai đoạn này, khó lòng bỏ qua việc phân tích hình tượng người nữ như là một đối tượng cơ bản. Tuy nhiên, việc dùng hình tượng người nữ như một biểu hành để chứng minh cho luận đề về lòng nhân ái và chủ nghĩa nhân đạo của các tác giả nam giới lại là một câu chuyện khác, mà chúng tôi sẽ bàn tới ở phần sau. Ở đây, việc trưng dụng hình ảnh phụ nữ như một đối tượng nhị nguyên trong suốt trong những cặp phân chia đối lập về tính cách, thân phận, chức năng.

làm cho hình tượng phụ nữ dần dần bị đánh rỗng, trở thành thứ hình tượng được tồn tại qua sự tri nhận và làm đầy của đối tượng làm chủ. Nghiên cứu văn học từ góc độ giới ở giai đoạn này chưa phải là ý thức tự giác, mà mới chỉ dừng lại ở việc “phục dựng” các hình mẫu, các cặp đối lập, chỉ ra sự vênh lệch trong cấu trúc giới tính, vạch ra sự bất công mà thế giới hình tượng nhỏ yếu bên lề như phụ nữ phải gánh chịu; đồng thời khẳng định địa vị “huy hoàng” của phụ nữ trong thời đại nhà Nho – nam giới “mất giá”, đạo đức phong kiến “mất thiêng”. Điều đáng chú ý là một phương hướng tiếp cận từ quan điểm giới như vậy vẫn còn kéo dài đến hiện nay, khi lịch sử nghiên cứu văn học từ lý thuyết giới thực chất vẫn chỉ là lịch sử nghiên cứu hình tượng phụ nữ, sáng tác nữ hoặc theo hướng đề cao ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất của người phụ nữ. Nó cũng chứng minh một điều rằng, phụ nữ luôn là đối tượng chịu sự quan sát và phán xét (dù bằng bất cứ thái độ nào); là đối tượng nhỏ yếu, ngoại vi như một tất yếu (nên cần bênh vực, chiêu tuyết, ngợi ca); là hiện thân của một thứ thang đo tiến hóa/tiến bộ xã hội nghiệt ngã mà ở đó sự thay đổi địa vị 6 chưa chắc đã vì chính quyền lợi của họ mà trước mắt, để khẳng định các trật tự mới, thiết chế mới, những tiến bộ của một xã hội khác xưa.

Phan Ngọc trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều xuất bản lần đầu năm 1965 đã đưa ra nhận định về một hiện tượng vừa “hiển nhiên” nhưng lại vừa “ít được chú ý” trong văn học Việt Nam trước thời Lê mạt là trong những tác phẩm được quy định niên đại chính xác, trừ Truyền kỳ mạn lục, ―hầu như không có đàn bà” [79, tr. Phan Ngọc đã chỉ ra tính chất bị trấn áp, bị quy định, vô âm sắc của hình tượng người nữ trước thời Lê mạt, dưới tác động của thiết chế nam quyền. Muốn được công nhận, được xuất hiện, người phụ nữ phải thủ tiêu bản sắc, thỏa hiệp với các diễn ngôn về phẩm hạnh mà nam giới và xã hội phong kiến đặt ra. Như thế, người phụ nữ dễ dàng được phân chia đơn tuyến, biệt lập vào các vai, các nhóm, các tính cách điển hình nhằm thỏa mãn việc trình bày một luận đề đạo đức nào đó.

Các nét riêng, thuộc về bản sắc bị tẩy xóa; thay thế bằng các nhóm, kiểu, dạng phận vị chức năng. Tuy thế, “tình hình vào thời Lê mạt khác hẳn. Cái đối tượng mà nền văn học cũ không dám nhắc đến, thì nay trở thành thần tượng của nền văn học mới. Người đàn bà xuất hiện mọi nơi, trở thành vị nữ hoàng mà hào quang và uy tín lấn át mọi thần tượng khác.

Đây là người đàn bà―nghiêng nước nghiêng thành‖, khao khát tình yêu, có một cơ thể ―trong ngọc trắng ngà‖. Người đàn bà mà Nho giáo sợ hãi, Phật giáo xua đuổi, lúc này thống trị toàn bộ văn học [79, tr. Phan Ngọc đã đặt đối sánh địa vị “huy hoàng” của người phụ nữ bên cạnh sự biến mất khỏi sân khấu của những hình tượng nam nhi truyền thống như một kết luận về sự thay đổi, tái lập thời đại mới; mà trên đó, các vấn đề về cá nhân và quyền con người sẽ được đặt lại, nhìn nhận lại xác đáng hơn, nhân văn hơn. Tính đa dạng của thế giới hình tượng nhân vật nữ được tác giả Trần Thị Băng Thanh chỉ ra trong bài viết Nhìn qua những tác phẩm viết về đề tài phụ nữ trong văn học chữ Hán thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX trên Tạp chí Văn học số 1 năm 1978: “Mặt khác, những nhân vật phụ nữ xuất hiện trong tác phẩm cũng rất nhiều loại: có các hoàng hậu, phu nhân, công chúa, tiểu thư khuê các và cũng có chị em phụ nữ cần lao; có các nữ sĩ, ni cô, những nhân vật trong lịch sử, trong truyền thuyết và cả những con người thực trong cuộc đời.

Thế giới nhân vật này rất đa dạng về tính cách và cũng rất khác nhau về số phận” [114, tr. Tuy vậy, sự xuất hiện đa dạng với biên độ rộng khắp của hình tượng phụ nữ trong văn học giai đoạn này mới là mặt hiện tượng. Ẩn sâu 7 sau lớp hình tượng ấy là thế giới tư tưởng tình cảm của các tác giả trung đại, với sự thay đổi nhãn quan và bút pháp miêu tả khác xa so với các giai đoạn trước đó. Tinh thần nhân văn của văn học giai đoạn này bộc lộ rõ rệt qua những trường hợp “xét lại”, vốn chỉ thường thấy trong văn học hiện đại với sự phát triển của các trào lưu đấu tranh xã hội.

Theo Trần Thị Băng Thanh, những nhân vật nữ trong lịch sử như Huyền Trân, Điểm Bích từng chịu sự chê bai của nhiều thế hệ thì đến giai đoạn này đã được các văn nhân “xét lại”. Lê Quý Đôn là người đầu tiên đưa tư liệu chứng tỏ Huyền Quang và Điểm Bích đều không có lỗi [114, tr. Ở lĩnh vực văn xuôi tự sự, tác giả Phạm Tú Châu trong bài viết Những nhân vật nữ trong Hoàng Lê nhất thống chí trên Tạp chí Văn học số 1 năm 1978 nhận định về địa vị thấp kém của các nhân vật nữ trong tác phẩm, chỉ ra tình trạng phụ thuộc, không thể làm chủ cuộc đời của họ, là con bài trên ván cờ của nam giới, trở thành công cụ tùy ý sử dụng của đấng bậc: “Người đẹp trong sách chỉ luẩn quẩn trong cuộc sống đài các chật hẹp để rồi cũng bị cuốn hút vào vòng tranh giành ngai vua, sập chúa nhỏ nhen, ích kỷ. Nếu họ có quyền hành gì thì cũng là nhờ sự che chở, thiên ái của người đàn ông; nếu họ có được công nhận là sáng suốt thì cũng là ngoài ý định của nam tác giả.

Nhìn chung, người phụ nữ là con bài trên ván cờ của nam giới (người con dâu cả của Nguyễn Huy Bá, vợ Nguyễn Viết Tuyển, con gái Nguyễn Đình Giản.), là đồ dùng họ mua về, sử dụng thế nào tùy thích (Ngọc Lan) [11, tr. Luận án Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân năm 1993 của tác giả Nguyễn Thị Chiến đã tìm hiểu sự phát triển của hình tượng người phụ nữ trong suốt chiều dài mười thế kỉ của nền văn học viết, đã có những nhận định về sự phát triển mờ nhạt của hình tượng người phụ nữ trong sáng tác văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV. Cho đến thế kỉ XVI – XVII, gương mặt người phụ nữ mới được thể hiện và bước đầu tạo được ấn tượng với độc giả. Đó là Túy Tiêu, Nhị Khanh, Đào Hàn Than (Truyền kì mạn lục), Vương Tường (Truyện Vương Tường), Viên Thị (Lâm tuyền kì ngộ).

Những hình tượng người phụ nữ tiêu biểu kể trên đã được văn học miêu tả không phải là những anh hùng liệt nữ như Bà Trưng, Bà Triệu, nàng Mỵ Ê mà là “những số phận cụ thể, đời thường, có cuộc sống éo le, phức tạp, có khát vọng tình yêu và phẩm chất trung hậu. Đây là những biểu hiện mới mẻ của văn học viết trong việc thể hiện cuộc sống là những dấu hiệu khởi đầu cho một sự chuyển biến của văn học thời kì này” [17, tr. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đặc điểm của hình tượng phụ nữ trong truyện 8 Nôm, với những thay đổi mạnh mẽ so với các thể loại khác của thời kì khác mà nói như tác giả Kiều Thu Hoạch trong công trình Truyện Nôm – nguồn gốc và bản chất thể loại: “Trong bối cảnh của trào lưu nhân văn, truyện Nôm như là sinh ra để nói về người phụ nữ, truyện Nôm như là thể loại thể hiện tốt nhất, đầy đủ nhất về đề tài người phụ nữ trong mọi quan hệ xã hội rộng lớn” [17, tr. Bên cạnh đó, hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của một tác giả cụ thể, tiêu biểu là Hồ Xuân Hương cũng trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều công trình.

Trước năm 1975, nhiều bài viết của các tác giả như Văn Tân, Xuân Diệu, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Long Vân… đã khai thác các vấn đề quan trọng trong thơ Hồ Xuân Hương, đặc biệt là vấn đề dâm và tục. Sau năm 1975, các công trình của các tác giả như Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu, Đỗ Lai Thúy, Đoàn Lê Giang… đã lựa chọn điểm tựa phê bình khác nhau từ thi pháp học, phân tâm học, hậu hiện đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu giới trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX" mang đến cái nhìn sâu sắc về vai trò và hình ảnh của giới trong văn học thời kỳ này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các nhân vật nữ và nam trong các tác phẩm văn học mà còn khám phá cách mà các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình ảnh giới. Qua đó, tài liệu giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phát triển của tư tưởng giới trong văn học Việt Nam, từ đó nhận thức được những thay đổi trong quan niệm về giới tính qua các thời kỳ.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ gender representation in solutions textbooks a multimodal analysis, nơi phân tích cách thức thể hiện giới trong sách giáo khoa. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ vấn đề giới trong truyền kỳ mạn lục cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về vấn đề giới trong thể loại truyền kỳ, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự hiện diện của giới trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều khía cạnh thú vị để bạn khám phá thêm.