Luận văn thạc sĩ ueh giám sát và đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nghiên cứu trường hợp tại huyện củ chi tp hcm luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu ueh giám sát và đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nghiên cứu trường, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Tác giả

Nguyễn Minh Trí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2013

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục hình vẽ và bảng biểu

Lời mở đầu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ

1.1. Những xu hướng cải cách trong ngân sách

1.2. Sự cải cách trong tiến trình lập ngân sách

1.3. Mục tiêu quản lý chi tiêu công (PEM)

1.4. Thông tin về kết quả hoạt động:

1.5. Sự liên kết giữa chính sách, chương trình và phân bổ nguồn lực NSNN

1.6. Mô hình giám sát và đánh giá dựa trên kết quả trong hoạt động khu vực công

1.6.1. Lịch sử hình thành và mục đích của GSĐG dựa trên kết quả

1.6.2. Định nghĩa GSĐG dựa trên kết quả

1.6.3. Mô hình 10 bước của Hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA “XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI” Ở VIỆT NAM

2.1. Khái quát về Chương trình mục tiêu quốc gia của Việt Nam

2.1.1. Khái niệm về CTMTQG

2.1.2. Sự cần thiết của việc ra đời và tồn tại các CTMTQG

2.2. Chương trình mục tiêu quốc gia “xây dựng nông thôn mới”

2.2.1. Khái niệm nông thôn, phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới

2.2.2. Tính tất yếu và quá trình hình thành CTMTQG XDNTM

2.2.2.1. Bước ngoặc của Nghị quyết “Tam nông” - Tiền đề cho sự ra đời của CTMTQG XDNTM ở Việt Nam

2.3. Tác động của các chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 2000-2009

2.4. Sự ra đời và các bước thực hiện CTMTQG XDNTM 2010-2020

2.5. Nguồn vốn đầu tư cho CTMTQG XDNTM

2.6. Nguyên tắc, cơ chế quản lý thực hiện của CTMTQG XDNTM

2.6.1. Phê duyệt đề án XDNTM của xã

2.6.2. Bộ máy GSĐG CTMTQG XDNTM

2.7. Tổ chức đánh giá, xét duyệt đạt chuẩn NTM

2.8. Nghiên cứu mô hình NTM ở một số quốc gia trên thế giới

2.8.1. Mô hình NTM ở một số quốc gia

2.8.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho việc thực hiện CTMTQG XDNTM tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA “XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI” - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN CỦ CHI, TP

3.1. Giới thiệu chung về huyện Củ Chi

3.1.1. Vị trí địa lý tự nhiên và dân số

3.1.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

3.1.3. Thu - chi ngân sách nhà nước

3.1.4. Quá trình triển khai CTMTQG XDNTM

3.2. Tiến trình thực hiện XDNTM tại huyện Củ Chi

3.2.1. Xác định các kết cục, mục tiêu

3.2.2. Chọn các chỉ số kết cục để giám sát

3.2.3. Thu thập các số liệu kỳ gốc về điều kiện hiện tại, đặt ra các chỉ tiêu cụ thể và thời gian phải đạt được

3.2.4. Thu thập thông tin một cách thường xuyên để đánh giá xem liệu các chỉ tiêu này có đạt được hay không

3.2.5. Phân tích và báo cáo kết quả

3.3. Thực trạng đánh giá CTMTQG XDNTM tại Củ Chi

3.3.1. Ở giai đoạn chuẩn bị thực hiện Đề án

3.3.1.1. Về thuận lợi:
3.3.1.2. Những khó khăn trong cải thiện GSĐG (theo mô hình 10 bước):

3.3.2. Ở giai đoạn triển khai thực hiện Đề án (Đề án sau khi được phê duyệt)

3.3.2.1. Về thuận lợi, các mặt làm được:
3.3.2.2. Những hạn chế khi thực hiện GSĐG dựa trên kết quả (theo mô hình 10 bước):

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ TRONG ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA “XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI”

4.1. Điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình giám sát và đánh giá dựa trên kết quả

4.2. Ý nghĩa của ứng dụng của hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả

4.2.1. Ứng dụng cho dự án, chương trình và chính sách

4.2.2. Các ứng dụng bên trong và bên ngoài

4.2.3. Vốn tri thức

4.2.4. Tính minh bạch và tính trách nhiệm

4.3. Các thách thức và tác động trong việc xây dựng Hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả

4.3.1. Phương diện chính trị của GSĐG

4.3.2. Phương diện kỹ thuật của GSĐG – xây dựng năng lực thể chế

4.4. Vận dụng Hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả trong đánh giá giá CTMTQG XDNTM

4.4.1. Ở giai đoạn chuẩn bị thực hiện Đề án XDNTM

4.4.1.1. Về đánh giá mức độ sẵn sàng
4.4.1.2. Về thống nhất các kết cục cần giám sát và đánh giá
4.4.1.3. Về lựa chọn các chỉ số then chốt để giám sát kết cục
4.4.1.4. Về xác định dữ liệu tình trạng ban đầu về các chỉ số
4.4.1.5. Về lập kế hoạch để cải tiến - lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh kết quả

4.4.2. Ở giai đoạn thực hiện Đề án XDNTM

4.4.2.1. Về giám sát kết quả
4.4.2.2. Về sử dụng thông tin đánh giá để hỗ trợ cho hệ thống quản lý
4.4.2.3. Về báo cáo về những phát hiện
4.4.2.4. Về sử dụng các phát hiện
4.4.2.5. Về duy trì hệ thống giám sát và đánh giá

4.5. Những điểm cần lưu ý khi triển khai áp dụng

4.5.1. Xác định các loại chi phí và phương pháp thực hiện

4.5.2. Các bước lập kế hoạch GSĐG DTKQ

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục 1: Nội dung CTMTQG về XDNTM

Phụ lục 2: Bộ tiêu chí quốc gia XDNTM

Phụ lục 3: Phương pháp xác định các tiêu chí về XDNTM

Phụ lục 4: Khung GSĐG kết quả hoạt động của CTMTQG XDNTM

Phụ lục 5: Đề cương phục vụ GSĐG CTMTQG XDNTM ở địa phương

Phụ lục 6: Câu hỏi xác định tính thực tiễn của chỉ số theo công cụ SMART

Phụ lục 7: Bản đồ thể hiện các xã tại huyện Củ Chi

Phụ lục 8: Các thuật ngữ trong GSĐG dựa trên kết quả

Tóm tắt

I. Tổng quan về giám sát và đánh giá chương trình nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia 'Xây dựng nông thôn mới' (XDNTM) được triển khai nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn. Việc giám sát và đánh giá chương trình này là rất quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Nghiên cứu tại huyện Củ Chi, TP.HCM, sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và kết quả của chương trình.

1.1. Khái niệm về giám sát và đánh giá chương trình nông thôn mới

Giám sát và đánh giá chương trình nông thôn mới là quá trình theo dõi, đánh giá hiệu quả và tác động của các hoạt động trong chương trình. Điều này giúp xác định các vấn đề và cải thiện quy trình thực hiện.

1.2. Tầm quan trọng của giám sát và đánh giá trong xây dựng nông thôn mới

Giám sát và đánh giá không chỉ giúp phát hiện các vấn đề trong quá trình thực hiện mà còn cung cấp thông tin cần thiết để điều chỉnh chính sách và chiến lược phát triển nông thôn.

II. Thách thức trong giám sát và đánh giá chương trình nông thôn mới tại Củ Chi

Mặc dù chương trình XDNTM đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc giám sát và đánh giá. Những khó khăn này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình.

2.1. Các vấn đề trong việc thu thập dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu chính xác và kịp thời là một trong những thách thức lớn nhất. Nhiều thông tin không được cập nhật thường xuyên, dẫn đến việc đánh giá không chính xác.

2.2. Thiếu sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình giám sát và đánh giá là rất quan trọng. Tuy nhiên, nhiều người dân chưa nhận thức được vai trò của mình, dẫn đến việc thiếu thông tin và phản hồi.

III. Phương pháp giám sát và đánh giá hiệu quả chương trình nông thôn mới

Để nâng cao hiệu quả giám sát và đánh giá, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Mô hình 10 bước sẽ được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.

3.1. Mô hình 10 bước trong giám sát và đánh giá

Mô hình 10 bước cung cấp một khung làm việc rõ ràng cho việc giám sát và đánh giá. Mỗi bước đều có mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể để theo dõi.

3.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong giám sát

Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ rất nhiều trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Việc áp dụng các phần mềm quản lý sẽ giúp tăng cường hiệu quả giám sát.

IV. Kết quả nghiên cứu về chương trình nông thôn mới tại huyện Củ Chi

Nghiên cứu cho thấy chương trình XDNTM đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho huyện Củ Chi. Tuy nhiên, vẫn cần cải thiện một số khía cạnh để đạt được mục tiêu bền vững.

4.1. Những thành tựu đạt được

Chương trình đã giúp cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao thu nhập cho người dân và cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều xã đã đạt chuẩn nông thôn mới.

4.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn một số xã chưa đạt chuẩn. Cần có các giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chương trình nông thôn mới

Chương trình XDNTM cần tiếp tục được giám sát và đánh giá để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững. Các cơ quan chức năng cần có những chính sách phù hợp để hỗ trợ chương trình trong tương lai.

5.1. Đề xuất giải pháp cải thiện giám sát và đánh giá

Cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng và áp dụng công nghệ thông tin trong giám sát. Điều này sẽ giúp nâng cao tính chính xác và hiệu quả của quá trình đánh giá.

5.2. Tương lai của chương trình nông thôn mới tại Củ Chi

Chương trình cần được tiếp tục duy trì và phát triển. Các chính sách hỗ trợ cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của người dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giám sát và đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nghiên cứu trường hợp tại huyện củ chi tp hcm luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ Do đòi hỏi ngày càng cao và đi kèm với việc phải chứng tỏ thành quả hoạt động tốt, các nước hiện nay đang chuyển sang việc giám sát và đánh giá dựa trên kết quả với hy vọng rằng công cụ quản lý công này có thể giúp đưa ra được những chính sách phù hợp, góp phần quản lý tài chính và các nguồn lực khác, hoàn thành được xứ mệnh và lời hứa của mình trước các bên hữu quan trong nước và quốc tế. Dù xuất phát điểm cho sự thay đổi của các quốc gia là khác nhau, nhưng mục tiêu mong muốn là góp phần vào phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế và phúc lợi cho nhân dân. Điều cơ bản và tiên quyết trong nổ lực cải cách đó, các chính phủ, nhất là ở các nước đang phát triển, phải đưa thông tin về kết quả hoạt động vào ngân sách của họ. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều điều cần phải làm, như việc kết nối giữa các chỉ tiêu về kết quả hoạt động với chi tiêu công và việc sử dụng thông tin về kết quả hoạt động để xác định mức phân bổ ngân sách.1 Những xu hướng cải cách trong ngân sách Bắt nguồn từ những cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo việc bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) lớn đã đặt áp lực lên các tổ chức công phải trở nên hiệu quả và trách nhiệm hơn trong việc thực hiện chính sách và chương trình của mình.

Cụ thể, những cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) trong những năm 1980 và 1990 là động cơ chủ yếu đã làm nảy sinh mạnh mẽ cho những cải cách khu vực công sau này (Tony Bovaird & Elke Lõffler, 2003, p.1 Sự cải cách trong tiến trình lập ngân sách Hơn thế kỷ qua, sự khởi nguồn quan trọng của cải cách khu vực công là nỗ lực trong cải cách quản lý chi tiêu công, đặc biệt là phương thức lập ngân sách. Trong đó, chính phủ của các nước muốn thực hiện tốt việc kiểm soát, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công của nhà nước, qua đó nhằm thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế - xã hội của mình (Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài, 2009, tr. Cho đến nay, thế giới trải qua tiến trình cải cách soạn lập ngân sách nhà nước trong quản lý chi tiêu công từ việc chú trọng đến yếu tố đầu vào sang quan tâm kiểm soát đầu ra và hướng đến kết quả thực hiện, và từ cách thức soạn lập và quản lý NSNN thường niên sang trung hạn bằng việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) chú ý đến tính hiệu suất, hiệu quả, tính phù hợp và tính bền vững (Sử Đình Thành & cộng sự, 2005, tr. Cụ thể: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trước cuối thế kỷ XIX, việc lập NSNN ở hầu hết các quốc gia gắn liền với quyền lực của bộ máy hành pháp yếu kém, ít có sự kiểm soát của TW và những quy trình lập NSNN có đặc thù riêng.

Lập NSNN theo khoản mục truyền thống, một cải cách bắt nguồn từ quan điểm cho rằng việc thiếu đi sự kiểm soát đầy đủ chi tiêu công là góp phần tạo ra môi trường làm gia tăng đáng kể nạn tham nhũng (Sử Đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài, 2009, tr. Vì lẽ đó, vào cuối thế kỷ XIX và đầu XX, các nhà cải cách NSNN đã ủng hộ hệ thống lập ngân sách theo khoản mục để tăng cường trách nhiệm giải trình của người thực hiện qua việc sử dụng chi tiết hoá các nguồn lực và sự tuân thủ các khoản mục chi tiêu. Tuy vậy, phương thức soạn lập này có những nhược điểm đáng kể như: Sự phân bổ nguồn lực không trả lời được câu hỏi tại sao tiền phải chi tiêu; Ngân sách chỉ được lập trong ngắn hạn (thường là một năm); Không chú trọng đúng mức đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả hoạt động trong cung ứng hàng hoá công. Với nhược điểm trên, các nhà cải cách tập trung đổi mới bằng phương thức lập ngân sách theo công việc thực hiện căn cứ vào đo lường khối lượng công việc của một đơn vị.

Nó nhấn mạnh sự tổng hoà những thông tin hoạt động vào trong quá trình lập ngân sách. Thế nhưng, mô hình này không chú trọng đến những tác động hay ảnh hưởng dài hạn của chính sách, và được thiết kế hướng vào thực hiện tất cả các mục tiêu, trong khi nguồn lực còn giới hạn. Cho nên, nó không quan tâm đúng mức đến tính hiệu lực của chi tiêu NSNN. Điểm quan trọng của phương pháp lập ngân sách là cần chú trọng đến tính hiệu lực và tác động của chi tiêu.

Sự quan tâm này dẫn đến hình thành phương thức soạn lập ngân sách theo chương trình vào những năm đầu 1960 (bắt đầu bởi việc nghiên cứu cải thiện các chương trình xã hội tại các nước OECD (Kusek & Rist, 2004, p.15), với nỗ lực nhằm thiết lập một hệ thống lập ngân sách gắn kết chặt chẽ với lập chương trình và lập kế hoạch. Mấu chốt của lập NSNN theo chương trình là chương trình mục tiêu của chính sách công để đo lường đầu ra và tác động đến mục tiêu. Tuy nhiên, phương thức soạn lập NSNN theo chương trình có hạn chế nhất định: không thể tạo ra chương trình cho các tổ chức để thực hiện; không đảm bảo gắn kết chặt chẽ giữa phân bổ ngành và mục tiêu chiến lược ưu tiên; không gắn kết giữa việc thiết lập chương trình với kế hoạch chi tiêu thường xuyên để sử dụng nguồn lực tài chính công hiệu quả. Bước vào những năm 1980 và 1990, hầu hết các nước phát triển đã thực hiện cải cách quản lý ngân sách hướng vào lập ngân sách theo kết quả đầu ra.

Điểm nổi bậc của cải cách này, là cơ sở cho việc xây dựng bộ khung chung của hệ thống GSĐG bằng một chiến lược tổng thể nhằm đạt được những thay đổi quan trọng trong quản lý và đo lường công việc thực hiện của các cơ quan nhà nước so với mục tiêu, làm cho chi tiêu công hiệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quả, hiệu lực và thích hợp hơn với việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tăng trưởng bền vững, giúp cho các nhà tài trợ tin tưởng vào hệ thống quản lý tài chính của chính phủ, qua đó khuyến khích họ ngày càng sử dụng kênh NSNN để hỗ trợ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Lập ngân sách theo kết quả đầu ra bao gồm nhiều công đoạn: thiết lập mục tiêu, lựa chọn các chỉ số và kết quả hướng tới, giám sát công việc thực hiện, phân tích và báo cáo những kết quả này so với mục tiêu đề ra bằng việc thiết lập hệ thống thông tin quản lý liên quan đến phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính như: các đầu vào, đầu ra, chi phí tài trợ và mối quan hệ giữa đầu ra với đầu vào và những tác động của các yếu tố này đến kết quả mong muốn của chính phủ và phù hợp với mục tiêu chính sách.1: Sơ đồ các yếu tố cơ bản của lập NSNN theo kết quả đầu ra SỰ THÍCH HỢP Các mục tiêu Kết quả chiến lược kinh tế - thực tế HIỆU LỰC xã hội CHI PHÍ THỰC TẾ Đầu ra HIỆU QUẢ Kết quả theo kế Đầu vào hoạch Chi phí Nguồn: Sử Đình Thành (2005), Vận dụng phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công của Việt Nam, NXB Tài chính (tr.2: Sơ đồ quản lý nguồn lực của lập NSNN theo kết quả đầu ra Mục tiêu chính sách của chính phủ Lập kế hoạch chiến lược (trong giới hạn nguồn lực cho phép) Kết quả mong đợi Quản lý chương trình Miêu tả mục tiêu chương trình, tiểu chương trình; và báo cáo các chỉ tiêu thực hiện then chốt của chương trình. Lập ngân sách đầu ra Khách hàng của các cơ quan nhà nước + Ảnh hưởng đến cộng đồng. Các đầu ra (chi tiết hoá, cụ thể hoá, đo + Đánh giá hiệu quả.

lường chi phívà số lượng); và liên kết + Phản hồi các đầu ra. đầu ra với các kết quả mong muốn. Những hoạt động công việc của các cơ quan, đơn vị + Sản xuất ra đầu ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Từ cách lập ngân sách theo kết quả đầu ra từng năm một, NSNN được sử dụng chủ yếu để kiểm soát cơ quan quản lý chứ không để bảo đảm thực thi chính sách một cách hiệu quả. Cách làm này không khuyến khích xác lập ưu tiên chi tiêu một cách chiến lược cho một giai đoạn, các chính sách mới có ít cơ hội được đưa vào thực hiện.

Nhận thấy nhược điểm trên, hiện nay, nhiều nước chuyển sang lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) nhằm kết nối chính sách, lập kế hoạch và lập ngân sách phù hợp với năng lực của quốc gia bằng việc lập các Chiến lược ngành trong trung hạn và xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, kết quả hoạt động. Từ đó, xây dựng ngân sách của ngành nhằm phản ánh những chi phí cần thiết của các chính sách cho các hoạt động được quyết định, lựa chọn ưu tiên để đạt các sản phẩm đầu ra. Với MTEF, càng thấy rõ, các nước đang phát triển cũng như những nước nghèo sẽ có nhiều cơ hội hơn (để nhận được tài trợ nguồn lực) cho việc thực hiện giảm nghèo và thu hẹp chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư bằng việc cụ thể hoá ưu tiên chính sách thành các Chiến lược, Dự án và Chương trình mục tiêu quốc gia. Tiến trình cải cách này là xu thế tất yếu để các nước nổ lực hơn trong đánh giá thành quả hoạt động.

Có chăng, sự tiếp cận này đến sớm hay trễ là do quyết tâm chính trị của quốc gia nơi áp dụng và mục tiêu hướng đến trong quản lý chi tiêu công.2 Mục tiêu quản lý chi tiêu công (PEM) Nhu cầu cải cách quản trị khu vực công đặt sức ép lớn cho các quốc gia trong chính sách PEM nhằm tạo ra một hệ thống ngân sách hoạt động có hiệu quả. Đó là tuân thủ kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực dựa trên chiến lược ưu tiên, tính hiệu quả và hiệu lực của các chương trình. Ba cấp độ này là việc tái lập ba chức năng (kiểm soát những nguồn lực công, lập kế hoạch cho sự phân bổ nguồn lực, và quản lý nguồn lực) mà vốn đã được định hướng trong cải cách PEM thời gian qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ