Chương 1: việc làm và. Chương 2: Chương 3: Kết quả nghiên cứu về t và giải quyết việc làm tại chỗ huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên Chương 4: G tại chỗ huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 VIỆC LÀM VÀ 1. Việc làm và chính sách việc làm 1. Việc làm và thị trường việc làm 1.
Việc làm và nguồn lao động Việc làm đối với mỗi người lao động, được làm việc gắn với mỗi công việc cụ thể, không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân. Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào công việc của họ.
Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm. Trong thời kỳ nguyên thủy với nền sản xuất giản đơn thì việc làm của con người là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích lao động của mình. Các hoạt động săn bắn, hái lượm… là hoạt động tạo ra của cải, là việc làm con người hoạt động để phục vụ đời sống của bộ tộc. Trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể) và quan niệm về việc làm là những công việc đòi hỏi người làm việc phải có một chuyên môn nhất định nào đó để tạo ra một thu nhập nhất định.
Trong chế độ đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm và thất nghiệp… Hiện nay, nước ta với nền kinh tế đã chuyển sang một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với nhiều tư duy thay đổi thì quan niệm về việc làm cũng đã thay đổi một cách căn bản, được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà pháp luật không cấm. Điều 13, chương II Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [13,tr11] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Như vậy, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật của công việc đó. Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật.
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: - Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình. - Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm.
Quan niệm này đã góp phần mở rộng khái niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật Lao động nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy việc làm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Mặt khác, việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc nhiều vào yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, địa phương, doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong quan điểm đó còn có một số hạn chế sau khi áp dụng vào thực tế như sau: Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào pháp luật, phong tục tập quán… có những nghề ở nước này cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác lại cấm và không được coi là việc làm. “Người có việc làm” là những người làm việc và được trả tiền công, lợi nhuận hoặc thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo ra việc làm vì lợi ích và thu nhập của gia đình nhưng không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 nhận được tiền công hoặc hiện vật cho những công việc đó. Như vậy, người có việc làm khi làm những công việc mà pháp luật không cấm và được trả công, hoặc thu được lợi nhuận hoặc có ích cho gia đình… Trong nền kinh tế thị trường, việc làm được giải quyết thông qua quan hệ cung, cầu lao động và cạnh tranh trên thị trường lao động.
Cơ chế thị trường có khả năng điều tiết việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực lao động của xã hội. Cơ chế này có mặt tích cực là đảm bảo quyền tự do lựa chọn của người lao động và người sử dụng lao động, kích thích tính tích cực, năng động của họ, điều chỉnh nhu cầu lao động xã hội hết sức linh hoạt. Để hiểu rõ hơn khái niệm việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, việc là tự do. “Việc làm đầy đủ” là thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế, hay nói cách khác việc làm đầy đủ ở trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì có thể tìm được việc làm trong thời gian tương đối ngắn” [16,tr23].
Để đạt được mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá trình ấy ngắn hay dài tùy thuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan, chủ quan của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Việc làm đầy đủ mới chỉ nói lên sự giải quyết việc làm về mặt số lượng, chưa tính đến việc làm đó có phù hợp với khả năng, trình độ sở trường của người lao động hay không. “Việc làm hợp lý” là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ ai có khả năng làm việc, không chỉ tính trong nền kinh tế và phù hợp với trình độ và nguyện vọng của họ.
Việc làm hợp lý là việc làm không chỉ tính về mặt số lượng, mà còn tính đến khả năng, trình độ, nguyện vọng, năng khiếu của người lao động, là sự phù hợp về cả số lượng và chất lượng của các yếu tố con người, vật chất của sản xuất và xã hội, sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích xã hội. Việc làm hợp lý có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn hẳn so với việc làm đầy đủ. Đó là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ. Hiện nay, ở nước ta số người chưa có việc làm còn khá lớn, vì vậy nhiệm vụ đặt ra trước mắt là giải quyết việc làm đầy đủ.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, cũng đồng thời giải quyết việc làm một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại ngày càng phát triển và quá trình toàn cầu hóa từng bước nâng cao tỷ trọng việc làm hợp lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 “Việc làm tự do” là việc làm trong đó người lao động được tự do chọn việc làm với nghề nghiệp, thời gian thích hợp, phát huy cao nhất hiệu quả sáng tạo của mình. Hiện nay, việc làm tự do ở nước ta còn chiếm tỷ lệ nhỏ.
Tỷ lệ việc làm tự do sẽ tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật. “Việc làm bền vững” gồm 6 yếu tố: (1) Cơ hội việc làm; (2) làm việc trong điều kiện tự do; (3) việc làm có năng suất; (4) công bằng; (5) an ninh việc làm và (6) bảo vệ nhân phẩm. Hai yếu tố đầu tập trung vào tính sẵn có của việc làm, trong khi 4 yếu tố sau tập trung vào tình trạng, chất lượng của việc làm. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.
Số lượng lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định) Chất lượng lao động: Cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển bền vững cần chú trọng đến chất lượng lao động hơn là số lượng lao động, vì năng suất lao động, trình độ công nghệ, nền kinh tế tri thức… đều do chất xám, trình độ, kiến thức và sức khỏe của người lao động đem lại. Lực lượng lao động (LLLĐ): Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam và Bộ Lao động, thương binh và Xã hội Việt Nam cho rằng: LLLĐ (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc những người thất nghiệp trong thời gian quan sát.
LLLĐ trong độ tuổi lao động (tương đương với khái niệm dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.