CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu Theo Báo cáo của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007a): BĐKH được hiểu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình. Biến động của khí hậu được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc có thể là dài hơn nữa.
IPCC còn nhấn mạnh: “BĐKH là bất kỳ những thay đổi nào của khí hậu qua thời gian do hoạt động của con người hoặc do sự thay sự thay đổi trong giới tự nhiên”. IPCC không chỉ giới hạn BĐKH do hoạt động của con người, mà còn nhấn mạnh đến biến động của tự nhiên với hàm ý con người không những cần phải kiểm soát những hoạt động có hại của mình để hạn chế BĐKH mà còn phải thích ứng với BĐKH. Theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (Framework Convention on Climate Change - FCCC) thì: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu được quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu. Sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được.
Báo cáo đánh giá lần thứ sáu (AR6) của IPCC cho thấy BĐKH đã xảy ra trên quy mô toàn cầu: Nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu thế tăng lên rõ rệt kể từ những năm 1950, nhiều kỷ lục thời tiết và khí hậu cực đoan đã được xác lập trong vài thập kỷ qua. Khí quyển và đại dương ấm lên, lượng tuyết và băng giảm, mực nước biển tăng. Biến đổi của nhiệt độ có xu thế chung là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao so với vùng vĩ độ thấp; tăng nhanh hơn ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng ven biển và hải đảo; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. Số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm; số ngày và số đêm nóng, số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên quy mô toàn cầu.
Lượng mưa có xu thế tăng ở đa phần các khu vực trên quy mô toàn cầu trong thời kỳ 1901 - 2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở các vùng vĩ độ trung bình và cao; ngược lại, nhiều khu vực nhiệt đới có xu thế giảm. Xu thế tăng/giảm của lượng mưa phản ánh rõ ràng hơn trong giai đoạn 1951 - 2010 so với giai đoạn 1901 - 2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở khu vực Châu Mỹ, Tây Âu, Úc; xu thế giảm rõ ràng nhất ở khu vực Châu Phi và Trung Quốc.
Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNVMT) cũng nhất trí rằng: BĐKH là sự thay đổi khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều 5 kiện tự nhiên và hoạt động của con người cụ thể: BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan. Theo Báo cáo về chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn 2019 của Tổ chức Germanwatch - Tổ chức Phi chính phủ, phi lợi nhuận về môi trường, nông nghiệp và biến đổi khí hậu, công bố tại Hội nghị Các Bên về Biến đổi khí hậu (COP 24) diễn ra ở Katowice (Ba Lan), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ những hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng. Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng bằng trên thế giới chịu ảnh hưởng lớn từ những tác động của BĐKH và nước biển dâng.
Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng (0,8 - 0,9 C) và mực 0 nước biển đã dâng thêm khoảng 20cm. Dự báo, đến cuối thế kỷ 21, so với trung bình thời kỳ 1986 - 2005, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 1,9 - 2,3 C, lượng 0 mưa hàng năm tăng khoảng 5% và mực nước biển có thể dâng thêm 75cm. Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961 - 2014, nhiệt độ ngày cao nhất và thấp nhất có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 1 C/10 năm. Số ngày nóng với nhiệt độ ≥ 35 C có xu thế 0 0 tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước, đặc biệt là ở khu vực Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên.
Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam, trong thời gian qua, khí hậu của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, thể hiện qua các biểu hiện và xu thế sau đây: - Nhiệt độ, hầu hết các khu vực trên cả nước đều có xu thế tăng. Thời kỳ 1958 - 2014, nhiệt độ trung bình năm cả nước tăng khoảng 0,62 C, trong đó, riêng giai đoạn o 1985 - 2014 tăng khoảng 0,42 C. Trung bình mỗi thập kỷ, nhiệt độ tăng khoảng 0,10 C. o o Nhiệt độ tại các khu vực ven biển và hải đảo tăng ít hơn so với các khu vực ở sâu trong đất liền.
Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa xuân. - Lượng mưa trung bình năm cả nước có xu thế tăng nhẹ trong thời kỳ 1958 - 2014. Lượng mưa tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân, giảm vào các tháng mùa thu. Trong gần 60 năm qua, lượng mưa năm có xu thế giảm ở các khu vực phía Bắc (từ 5,8 đến 12,5%), giảm nhiều nhất là khu vực Đồng bằng Bắc Bộ (12,5%) và cả ở các 6 khu vực phía Nam (từ 6,9 đến 19,8%), tăng nhiều nhất ở khu vực Nam Trung Bộ (19,8%).
- Ở hầu hết các khu vực trên cả nước, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) đều có xu thế tăng rõ rệt, mức tăng cao nhất trong thời kỳ 1961 - 2014 lên tới 1°C/thập kỷ; số ngày nóng (Tx ≥35°C) cũng có xu thế tăng, đặc biệt là ở Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2 - 3 ngày/thập kỷ, tuy nhiên, giảm tại một số vị trí cục bộ ở một số khu vực khác. Mưa cực đoan có xu thế biến đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu: Giảm ở hầu hết các vùng thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và tăng ở phần lớn các vùng khí hậu khác. Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn. Tổng quan về truyền thông Biến đổi khí hậu 1.
Khái quát về truyền thông Truyền thông (Communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận.
Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Quá trình truyền thông: Quá trình truyền thông gồm hai hoạt động cơ bản: hoạt động truyền/gửi thông điệp thông qua kênh truyền thông (trực tiếp hoặc gián tiếp) từ nguồn truyền tới đối tượng và hoạt động phản hồi từ đối tượng đến nguồn truyền. Quá trình truyền thông gồm 6 thành phần. 1) Nguồn truyền: Có thể là một người, một nhóm người, một hoặc nhiều tổ chức phát ra các nội dung truyền thông tới đối tượng đích.
Nguồn truyền có thể là 7 cán bộ y tế, cán bộ hội phụ nữ, đoàn thanh niên. Nguồn truyền rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình truyền thông: độ tin cậy, sự hấp dẫn/yêu thích. 2) Thông điệp: Thông điệp truyền thông là những nội dung truyền thông cơ bản được trình bày ngắn gọn, súc tích, thuyết phục về một vấn đề nào đó mà người truyền muốn chuyển tới người nhận nhằm thu hút đối tượng, kêu gọi đối tượng hành động theo mục tiêu truyền thông. Thông điệp có thể được thể hiện dưới dạng hình ảnh, câu từ hoặc lời nói.
3) Kênh truyền thông: Là những cách thức những phương tiện, công cụ dùng để truyền tải các nội dung thông qua phương tiện truyền thông đến đối tượng truyền thông. Có 2 phương pháp truyền thông trực tiếp và gián tiếp. 4) Người nhận: Có thể là các cá nhân hay nhóm đối tượng đích khác nhau, các cộng đồng hoặc quảng đại quần chúng. Người làm truyền thông cần phải biết những đặc trưng của đối tượng như giới, tuổi, dân tộc trình độ văn hóa, giai tầng xã hội, thái độ hành vi và khả năng kinh tế của đối tượng đích để lựa chọn các phương tiện, các thông điệp và các nguồn truyền thích hợp.
Có thể phân chia đối tượng truyền thông (người nhận) thành các nhóm: đối tượng đích, đối tượng liên quan, đối tượng quan trọng. 5) Phản hồi: Cho biết các đáp ứng hay phản ứng của người phát tin, được người làm truyền thông xử lý để đưa ra các nội dung sau chuẩn xác hơn các nội dung trước và đưa ra thông tin điều chỉnh hành vi của đối tượng đúng đắn hơn. 6) Hiệu quả của truyền thông: Được đánh giá bằng sự thay đổi hành vi (TĐHV) của đối tượng. Mục tiêu của truyền thông biến đổi khí hậu nhằm: - Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề biến đổi khí hậu biết tình trạng của họ, từ đó họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
- Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào các chương trình bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. - Thương lượng hòa giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về tài nguyên và môi trường… giữa các tổ chức, trong nhân dân. 8 - Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu.