Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc và gia cầm, giữ vai trò quan trọng đối với việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập khu vực nông thôn và cải thiện dinh dưỡng xã hội. Theo định hướng phát triển quốc gia được tác giả trích dẫn, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp chiếm trên 25%, với mục tiêu nâng lên đạt 38% vào năm 2015 và 42% vào năm 2020. Mặc dù vậy, chăn nuôi cấp nông hộ tại Việt Nam nhìn chung vẫn mang tính phân tán, quy mô nhỏ, năng suất chưa cao, chịu nhiều rủi ro dịch bệnh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa còn hạn chế.

Xã Trí Quả là một xã đồng bằng thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tại địa phương này, mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm cấp nông hộ phát triển nhằm khai thác tiềm năng địa phương, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, hoạt động tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của các nông hộ còn gặp nhiều trở ngại về thị trường, tổ chức phân phối và kỹ thuật. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả thực hiện đề tài nhằm khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của các hộ chăn nuôi gia súc gia cầm trên địa bàn xã Trí Quả, huyện Thuận Thành; từ đó đề xuất một số giải pháp hợp lý nhằm đẩy mạnh quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nông dân chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá được thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gia súc, gia cầm của các hộ chăn nuôi tại xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
    • Tìm hiểu được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu.
    • Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của các hộ trên địa bàn xã Trí Quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cách thức tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất của các hộ chăn nuôi gia súc gia cầm xã Trí Quả như thế nào?
  2. Thực trạng các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở các hộ chăn nuôi ra làm sao?
  3. Những tồn tại và hạn chế trong khâu tiêu thụ sản phẩm của hộ là gì?
  4. Làm cách nào để giải quyết được bài toán tiêu thụ cho các hộ chăn nuôi: vừa bán được nhiều lại vừa bán được với giá cao nhất, tìm được thị trường tiêu thụ ổn định và lâu dài?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm tại xã Trí Quả; đối tượng khảo sát trực tiếp là các chủ hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, tập trung điều tra tại 4 thôn: Trà Lâm, Tư Thế, Phương Quan và Văn Quan.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014. Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011–2013; số liệu sơ cấp khảo sát thực tế trong năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết về kinh tế nông hộ và lưu thông hàng hóa nông sản:

  • Khái niệm và bản chất kinh tế nông hộ: Tác giả hệ thống hóa quan điểm của hội thảo quốc tế tại Hà Lan (1980), Tổng cục Thống kê (1989) và Viện Kinh tế học. Kinh tế hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, tập hợp các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn và lao động cùng tiến hành sản xuất kinh doanh, chia sẻ quỹ thu chi chung.
  • Lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp: Tiêu thụ là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, chuyển hóa giá trị từ hàng hóa sang tiền tệ ($T - H - T_1$). Hoạt động tiêu thụ gắn với vòng quay vốn lưu động $L = M/V$ (trong đó $L$ là số vòng quay vốn lưu động trong năm, $M$ là tổng mức luân chuyển vốn lưu động, $V$ là vốn lưu động kỳ kế hoạch).
  • Đặc thù tiêu thụ nông sản: Sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc tính chất sinh học, mang tính mùa vụ cao, có độ trễ giữa thời gian đầu tư và thu hoạch (tính muộn màng của cung), khối lượng thành phẩm không đối ứng cơ học với vật tư ban đầu và có sự kết hợp giữa tự tiêu dùng tại chỗ với cung ứng ra thị trường qua các kênh trực tiếp và gián tiếp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai như sau:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê, tài liệu lưu trữ của UBND xã Trí Quả giai đoạn 2011–2013, số liệu thống kê ngành nông nghiệp từ Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Tổng cục Thống kê Việt Nam.
    • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát mẫu ngẫu nhiên 60 hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm tại 4 thôn đại diện (Trà Lâm, Tư Thế, Phương Quan, Văn Quan) thông qua bảng hỏi điều tra và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ trong năm 2013.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.
    • Phương pháp thống kê kinh tế: Tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn và định gốc để so sánh biến động qua các năm.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến cán bộ chuyên trách nông nghiệp, thú y địa phương.
    • Phương pháp biểu đồ: Trực quan hóa biến động kinh tế và sơ đồ hóa mạng lưới kênh phân phối.
  • Hệ thống chỉ tiêu kinh tế sử dụng:
    • Chỉ tiêu nhân khẩu học: Tuổi đời, giới tính, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của chủ hộ.
    • Chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh:
      • $\text{Tổng chi phí} = \text{Chi phí lao động} + \text{Chi phí vật chất} + \text{Chi phí khác}$
      • $\text{Doanh thu} = \text{Số lượng sản phẩm} \times \text{Đơn giá}$
      • $\text{Lợi nhuận} = \text{Doanh thu} - \text{Tổng chi phí}$
      • $\text{Tỷ suất lợi nhuận} = \frac{\text{Lợi nhuận}}{\text{Doanh thu}}$
      • $\text{Tỷ suất lợi nhuận vốn} = \frac{\text{Lợi nhuận}}{\text{Tổng chi phí}}$

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương này khái quát các lý luận nền tảng về kinh tế hộ nông dân, vai trò của ngành chăn nuôi và bản chất của hoạt động tiêu thụ sản phẩm nông sản. Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ gồm nhóm chủ quan (vốn đầu tư, trình độ quản lý, quy mô diện tích, trình độ lao động) và nhóm khách quan (môi trường thời tiết, dịch bệnh, chính sách giao đất, tín dụng, tăng trưởng dân số và tiến bộ khoa học kỹ thuật). Về mặt tiêu thụ, tác giả làm rõ 3 mục tiêu bán hàng, các nội dung nghiên cứu thị trường (3 bước), nghiên cứu giá cả, hành vi khách hàng, 4 cấp độ cạnh tranh và cấu trúc kênh phân phối.

Phần thực tiễn cung cấp số liệu thống kê của FAO: năm 2009 tổng đàn bò thế giới đạt 1.164,8 triệu con, đàn lợn 887,5 triệu con, đàn gà 14.191,1 triệu con; năm 2010 Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về đàn vịt, thứ 4 về đàn lợn (27,6 triệu con), thứ 7 về đàn trâu (2,8 triệu con) và thứ 13 về đàn gà (200 triệu con). Tại Việt Nam, giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2000 tăng 3,93 lần so với năm 1975, chiếm 19,7% giá trị sản xuất nông nghiệp; đến năm 2013, tổng đàn trâu cả nước đạt 2,6 triệu con (giảm 2,6%), đàn bò đạt 5,2 triệu con (giảm 0,7%), riêng bò sữa đạt 186,3 nghìn con (tăng 11,6%), đàn lợn đạt 26,3 triệu con (giảm 0,9%), đàn gia cầm đạt 314,7 triệu con (tăng 2,04%) và tổng sản lượng thịt hơi đạt 4,3 triệu tấn (tăng 1,5%).

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định đối tượng nghiên cứu là hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi cùng các chủ hộ tại xã Trí Quả. Tác giả thiết lập 4 câu hỏi nghiên cứu, chuẩn hóa phương pháp chọn mẫu khảo sát 60 hộ tại 4 thôn đại diện, quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp (2011–2013) và sơ cấp (2013). Đồng thời, chương 2 công bố cụ thể các công thức tính toán tài chính kinh tế nông hộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tỷ suất sinh lời trên doanh thu và tỷ suất sinh lời trên chi phí làm thước đo đánh giá kết quả thực nghiệm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các dữ liệu thực tế thu thập tại địa phương:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Trí Quả: Xã có diện tích tự nhiên 554,87 ha, nằm ở phía Tây Nam huyện Thuận Thành, có tỉnh lộ 282 chạy qua 3 km. Cơ cấu đất đai biến động theo xu hướng giảm đất nông nghiệp và tăng đất phi nông nghiệp:
Chỉ tiêu đất đai Năm 2011 (ha) Cơ cấu 2011 (%) Năm 2012 (ha) Cơ cấu 2012 (%) Năm 2013 (ha) Cơ cấu 2013 (%) TĐPT BQ (%/năm)
Tổng diện tích tự nhiên 554,87 100,00 554,87 100,00 554,87 100,00 100,00
1. Đất nông nghiệp 369,78 66,60 364,74 65,73 364,53 65,70 99,29
- Đất sản xuất nông nghiệp 313,84 56,56 308,97 55,68 308,90 55,67 99,21
+ Đất trồng cây hàng năm 19,66 3,54 19,66 3,54 19,66 3,54 100,00
+ Đất trồng cây lâu năm 3,76 0,68 3,76 0,68 3,76 0,68 100,00
- Đất nuôi trồng thủy sản 32,52 5,86 32,35 5,83 32,21 5,80 99,53
2. Đất phi nông nghiệp 182,13 32,80 187,20 33,74 187,41 33,78 101,45
- Đất chuyên dùng 108,00 19,46 109,30 19,69 111,13 20,03 101,44
- Đất phi nông nghiệp khác 11,64 2,09 11,66 2,10 11,68 2,10 100,17
3. Đất chưa sử dụng 2,96 0,53 2,94 0,53 2,93 0,53 99,49

Tổng thu nhập của xã năm 2013 đạt 89,8 tỷ đồng, trong đó dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất:

  • Dịch vụ: 34,2 tỷ đồng (chiếm 38,08%)
  • Công nghiệp: 32,3 tỷ đồng (chiếm 35,97%)
  • Nông nghiệp: 23,3 tỷ đồng (chiếm 25,95%)

Về sản xuất trồng trọt năm 2013: Diện tích lúa đạt 610 ha, năng suất 60 tạ/ha, sản lượng 3.660 tấn; diện tích ngô 35 ha, sản lượng 192,5 tấn; diện tích đậu tương 15 ha, sản lượng 9,75 tấn; diện tích rau màu 20 ha, sản lượng 832 tấn. Về chăn nuôi chung của xã: Đàn trâu bò năm 2013 có 55 con (tăng 14,58% so với mức 48 con năm 2012). Công tác tiêm phòng năm 2013 thực hiện được 7.977 lượt con lợn, 132 lượt trâu bò và 2.000 lượt chó mèo.

  1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn xã: Năm 2013, toàn xã có 1.302 hộ chăn nuôi trên tổng số 1.954 hộ (tỷ lệ 66,63%):
Thôn Tổng số hộ Số hộ chăn nuôi Tỷ lệ trong tổng số hộ chăn nuôi toàn xã (%)
Tư Thế 815 543 41,70
Trà Lâm 473 315 24,20
Phương Quan 270 180 13,82
Văn Quan 340 227 17,40
Xuân Quan 56 37 2,87
Tổng 1.954 1.302 100,00
  1. Đặc điểm và nguồn lực của 60 hộ khảo sát:
Tiêu chí Phân loại Số lượng (người) Cơ cấu (%)
Độ tuổi chủ hộ Dưới 35 tuổi 6 10,00
Từ 35 đến 55 tuổi 52 86,67
Trên 55 tuổi 2 3,33
Trình độ văn hóa Trung học cơ sở (THCS) 40 66,67
Phổ thông (THPT) 20 33,33
Giới tính chủ hộ Nam 51 85,00
Nữ 9 15,00

Về sử dụng lao động trong 60 hộ điều tra: Tổng số lao động là 181 người (bình quân 3,02 lao động/hộ). Lao động gia đình là 171 người (bình quân 2,85 lao động/hộ, chiếm 94,48%), lao động thuê ngoài chỉ có 10 người (bình quân 0,17 lao động/hộ, chiếm 5,52%) với mức chi phí thuê 2–3 triệu đồng/người/tháng.

Các nội dung nghiên cứu tiếp theo theo bố cục của chương bao gồm: Diện tích chuồng trại (Bảng 3.8); Tình hình huy động và sử dụng vốn (Bảng 3.9); Quy mô chăn nuôi 2011–2013 (Bảng 3.10); Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2011–2013 (Bảng 3.11); Tình hình tiêu thụ sản phẩm (Bảng 3.12); Thị trường tiêu thụ (Bảng 3.13); Tiêu thụ theo thời gian các tháng trong năm (Bảng 3.14); Hình thức tiêu thụ (Bảng 3.15); So sánh chi phí (Bảng 3.16) cùng kết quả và hiệu quả kinh tế giữa gà thả vườn và gà công nghiệp (Bảng 3.17); Kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng chủ quan (chất lượng, nguồn lực, mẫu mã, hình thức bán hàng) và khách quan (thị trường, hạ tầng, chính sách, tính thời vụ).

Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm cho hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn xã Trí Quả

Chương này đề xuất hệ thống giải pháp chia theo các nhóm chủ thể:

  • Giải pháp đối với người chăn nuôi: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo; mạnh dạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chuồng trại; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và giống mới vào sản xuất.
  • Giải pháp đối với Nhà nước và chính quyền địa phương: Quy hoạch lại vùng chăn nuôi tập trung tách khỏi khu dân cư; tăng cường đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, thủy lợi; ban hành chính sách ưu đãi về vốn vay, thủ tục đất đai và hỗ trợ thú y.
  • Nhóm giải pháp trực tiếp cho tiêu thụ sản phẩm: Mở rộng quy mô chăn nuôi nông hộ; tích cực tham gia các lớp tập huấn phòng chống dịch bệnh vật nuôi; tổ chức tham quan học hỏi mô hình trang trại hiệu quả; tái cấu trúc và xây dựng kênh phân phối sản phẩm phù hợp nhằm giảm khâu trung gian.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội xã Trí Quả: Thu nhập từ nông nghiệp chiếm 25,95% (23,3 tỷ đồng) trong tổng thu nhập 89,8 tỷ đồng năm 2013. Tỷ lệ hộ tham gia chăn nuôi chiếm 66,63% (1.302/1.954 hộ), phân bố tập trung nhiều nhất tại thôn Tư Thế (543 hộ, chiếm 41,7%) và ít nhất tại thôn Xuân Quan (37 hộ, chiếm 2,87%).
  • Xác định đặc trưng nguồn lực của các hộ chăn nuôi: 86,67% chủ hộ ở độ tuổi 35–55; 85% là nam giới; 66,67% có trình độ học vấn THCS và chưa qua đào tạo kỹ thuật bài bản. Hoạt động chăn nuôi phụ thuộc 94,48% vào lao động tự có của gia đình (bình quân 2,85 lao động/hộ), lao động thuê ngoài chỉ chiếm 5,52%.
  • Hệ thống hóa các kênh phân phối và chỉ rõ sự khác biệt kinh tế giữa các phương thức chăn nuôi (so sánh chi phí và hiệu quả giữa gà thả vườn và gà công nghiệp).
  • Đóng góp mới do tác giả tự xác định: Khóa luận đã phân tích, đánh giá có hệ thống các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm tại địa bàn xã Trí Quả, huyện Thuận Thành; đồng thời làm rõ đặc điểm và nhu cầu của thị trường nông sản tại địa phương ở thời điểm nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi không gian hẹp tại một xã đồng bằng (xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) với quy mô mẫu khảo sát là 60 hộ gia đình tại 4 thôn. Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn ngắn từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014, các số liệu thứ cấp dừng lại ở mốc thời gian 2011–2013 và số liệu sơ cấp thu thập riêng cho năm 2013.

Từ phạm vi nghiên cứu trên, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên toàn bộ các xã thuộc huyện Thuận Thành hoặc đối chiếu giữa các vùng sinh thái chăn nuôi khác nhau của tỉnh Bắc Ninh; đồng thời cập nhật chuỗi số liệu dài hạn hơn để phân tích tác động của biến động giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp và dịch bệnh đến chuỗi cung ứng sản phẩm thịt.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế: Cung cấp phương pháp luận khảo sát kinh tế nông hộ, biểu mẫu phân tích chi phí - lợi nhuận và cách thức thiết kế bảng câu hỏi điều tra hộ chăn nuôi.
  • Người nghiên cứu về chuỗi cung ứng và tiêu thụ nông sản: Cung cấp khung lý thuyết về phân phối sản phẩm nông nghiệp và phương pháp so sánh hiệu quả giữa các mô hình chăn nuôi (thả vườn và công nghiệp).
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp và chính quyền cấp xã: Cung cấp dữ liệu thực tế về thực trạng đất đai, nguồn nhân lực và cơ cấu thu nhập của hộ chăn nuôi phục vụ công tác quy hoạch chăn nuôi tập trung tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu thu nhập xã Trí Quả năm 2013 là bao nhiêu? Theo số liệu thống kê của UBND xã Trí Quả được tác giả tổng hợp tại Bảng 3.2, tổng thu nhập của người dân toàn xã năm 2013 đạt 89,8 tỷ đồng. Trong đó, ngành nông nghiệp đạt 23,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25,95% (thấp hơn ngành dịch vụ với 38,08% và công nghiệp với 35,97%).

  2. Địa bàn thôn nào tại xã Trí Quả có số lượng hộ tham gia chăn nuôi lớn nhất? Căn cứ Bảng 3.5 của khóa luận, thôn Tư Thế có số hộ chăn nuôi lớn nhất với 543 hộ, chiếm 41,70% tổng số hộ chăn nuôi toàn xã. Ngược lại, thôn Xuân Quan có số lượng hộ chăn nuôi ít nhất với 37 hộ, chiếm 2,87%.

  3. Nguồn lao động phục vụ sản xuất chăn nuôi tại 60 hộ điều tra có đặc điểm gì? Theo Bảng 3.7, lực lượng lao động của các hộ khảo sát chủ yếu là lao động gia đình với 171 người (bình quân 2,85 lao động/hộ), chiếm 94,48% tổng số lao động. Lao động thuê ngoài chỉ có 10 người (bình quân 0,17 lao động/hộ), chiếm 5,52%, chủ yếu làm các công việc phổ thông với tiền công từ 2 đến 3 triệu đồng/tháng.

  4. Độ tuổi và trình độ văn hóa của các chủ hộ chăn nuôi được khảo sát ra sao? Theo Bảng 3.6, phần lớn chủ hộ nằm trong độ tuổi từ 35 đến 55 tuổi (52 người, chiếm 86,67%), chủ hộ dưới 35 tuổi chiếm 10,00% và trên 55 tuổi chiếm 3,33%. Về trình độ văn hóa, 66,67% chủ hộ có trình độ THCS (40 người) và 33,33% có trình độ THPT (20 người); lao động phần lớn chưa qua các khóa đào tạo nghề chính quy.

  5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp nào để giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho các nông hộ? Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chính: nhóm giải pháp đối với người chăn nuôi (đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực, áp dụng khoa học kỹ thuật); nhóm giải pháp đối với Nhà nước và chính quyền xã (quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, hoàn thiện hạ tầng, hỗ trợ chính sách vốn và đất đai); và nhóm giải pháp tiêu thụ (mở rộng quy mô, phòng chống dịch bệnh, học hỏi mô hình trang trại và thiết lập kênh phân phối phù hợp).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Thế đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ và đặc thù lưu thông nông sản thực phẩm. Trên cơ sở điều tra 60 hộ chăn nuôi tại xã Trí Quả (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), công trình đã phản ánh thực trạng phân bổ nguồn lực, cơ cấu lao động gia đình và những khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi. Các nhóm giải pháp được đề xuất hướng tới việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, nâng cao năng lực chủ hộ và hoàn thiện chuỗi phân phối nhằm ổn định đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi nông hộ.