Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình ứng phó với Biến đổi khí hậu 1.1 Biến đổi khí hậu - Biến đổi khí hậu (Climate Change): Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thể hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ[3].
- Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. - Công ước khung của liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu[3] Các bên tham gia công ước này: Thừa nhận rằng sự thay đổi của khí hậu trái đất và những hiệu ứng nguy hại của nó là mối quan tâm chung của nhân loại. Lo lắng rằng những hoạt động của con người đã và đang làm tăng thực sự nồng đồ các chất khí trong khí quyển, bằng những sự tăng ấy đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tính trung bình, điều đó sẽ dẫn tới sự nóng lên thềm của bề mặt và khí quyển trái đất và có thể ảnh hưởng có hại đến các hệ sinh thái tự nhiên của loài người. Ghi nhận rằng phần lớn nhất phái thải cá khí nhà kính toàn cầu trong lịch sử và hiện tại bắt nguồn từ nước phát triển, rằng sự phát thải theo đầu người ở các nước đang phát triển còn tương đối thấp và rằng phần phát thải toàn cầu bắt nguồn từ các nước đang phát triển sẽ tăng đáp ứng các nhu cầu phát triển và xã hội của mình.
Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng trong các hệ sinh thái biển và đất liền của các bể hấp thụ và bể chứa các khí nhà kính. n 5 Ghi nhận rằng có nhiều sự không chắc chắn trong các dự báo về thay đổi khí hậu đặc biệt đối với thời hạn, đại lượng và các sơ đồ khu vực của chúng. Thừa nhận rằng tính chất toàn cầu của sự thay đổi khí hậu kêu gọi sự hợp tác rộng lớn nhất có thể được của tất cả các nước và sự tham gia của họ vào sự ứng phó quốc tế thích hợp và có hiệu quả, phù hợp với những trách nhiệm chung như có phân biệt và các khả năng tương ứng cùng các điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi nước. Nhắc lại những điều khoản thích hợp của tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường coả loài người, đã được thông qua ở Stốckhôm vào ngày 16 tháng 6 năm 1972.
Cũng nhắc lại rằng các quốc gia, phù hợp với Hiến chương của Loài người và những nguyên tắc của luật quốc tế, có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo các chính sách về môi trường và phát triển của mình và có trách nhiệm bảo đảm rằng các hoạt động trong phạm vi quyền tài phán hoặc kiểm soát của mình không gây ra tổn hại đối với môi trường của các nước khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn quyền tài phán quốc gia. Khẳng định lại nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia trong hợp tác quốc tế để đối phó với thay đổi khí hậu. Nhận thức rằng các quốc gia phải ban hành luật môi trường có hiệu quả rằng các tiêu chuẩn về môi trường các mục tiêu quản lý và các ưu tiên cần phải phản ánh hoàn cảnh môi trường và phát triển của các điều đó áp dụng vào và rằng các tiêu chuẩn áp dụng bởi một số nước có thể là không thích hợp và gây phí tổn kinh tế và xã hội không xác đáng cho các nước khác, đặc biệt các nước đang phát triển. Nhắc lại những điều khoản của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/228 ngày 22 tháng 12 năm 1989 về Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển và các Nghị quyết 43/53 ngày 6-12-1988, 44/207 ngày 22-12-1989, 45/212 ngày 21-12-1990 và 46/169 ngày 19-12-1991 về bảo vệ khí hậu toàn cầu cho các thế hệ hiện nay và mau sau của nhân loại.
Cũng nhắc lại các điều khoản của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/206 ngày 22- 12-1989 về những ảnh hưởng nguy hại có thể có của mực nước biển các vùng thấp ven bờ và các điều khoản thích hợp của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/172 ngày 19- 12-1989 về việc thi hành kế hoạch hành động chống sa mạc hoá. n 6 Nhắc lại nữa Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn 1985 và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy kiệt tầng ôzôn, 1987 như đã được điều chỉnh và sửa đổi ngày 29-6-1990. Ghi nhận Tuyên bố cấp bộ trưởng của Hội nghị về khí hậu thế giới lần thứ hai đã được thông qua ngày 7-11-1990. Thấy rõ công tác phân tích có giá trị được tiến hành bởi nhiều quốc gia về thay đổi khí hậu và những đóng góp quan trọng của Tổ chức khí tượng thế giới, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc và các cơ quan, các tổ chức và các Ban khác của hệ thống Liên Hợp Quốc, cũng như các Ban Liên chính phủ và các quốc tế khác đối với việc trao đổi các kết quả nghiên cứu khoa học và điều phối sự nghiên cứu.
Nhận thấy rằng các bước cần thiết để hiểu biết và đối phó với thay đổi khí hậu có hiệu quả nhất về kinh tế - xã hội và môi trường nếu chúng được dựa trên những xem xét kinh tế - kỹ thuật và khoa học thích hợp và được đánh giá lại một cách liên tục căn cứ vào những phát hiện kới trong các lính vực này. Nhận thấy rằng các hành động khác nhau để đối phó với thay đổi khí hậu có thể tự chúng được biện minh về mặt kinh tế và cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề môi trường khác. Cũng nhận thấy sự cần thiết của các nước phát triển có hành động trực tiếp theo một phương pháp mềm dẻo trên cơ sở những ưu tiên rõ ràng, như là một bước đầu tiên tiến tới những ưu tiên rõ ràng, như là một bước đầu tiến tới những chiến lược đối phó toàn diện ở các mức toàn cầu, quốc gia và nơi được thoả thuận ở các khu vực mà có tính đến tất cả các khí nhà kính, có xem xét hích đáng đến những đóng góp tương ứng của chúng vào việc tăng cường hiệu ứng nhà kính. Nhận thấy nữa rằng các nước đất thấp và đảo nhỏ khác, các nước có ven bờ thấp các vùng khô cằn và nửa khô cằn hoặc các vùng dễ bị lụt, hạn và sa mạc hoá, và các nước đang phát triển với hệ sinh thái vùng núi mòng manh là đặc biệt bị những ảnh hưởng nguy hại của sự thay đổi khí hậu.
Nhận thấy những khó khăn đặc biệt của những nước nhất là các nước đang phát triển có các nền kinh tế đặc biệt phụ thuộc vào việc sản xuất, sử dụng và xuất khẩu nhiên liệu hoá thạch, do hậu quả của hành động được tiến hành nhằm hạn chế sự phát thải khí nhà kính. n 7 Khẳng định rằng những ứng phó đối với thay đổi khí hậu phải được phối hợp với sự phát triển kinh tế và xã hội một cách tổng hợp nhằm tránh những tác động có hại cho sự phát triển này tính đến một cách đầy đủ những nhu cầu chính đáng cần được ưu tiên của các nước đang phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững và trừ tiệt nạn nghèo khổ. Nhận thấy rằng tất cả các nước đang phát triển cần có quyền sử dụng tài nguyên cần thiết để đạt tới sự phát triển lâu bền về nền kinh tế và xã hội và để các nước đang phát triển tiến tới mục tiêu đó, việc tiêu thụ năng lượng của họ sẽ cần được tăng tính đến những khả năng đạt tới hiệu suất năng lượng lớn hơn và kiểm soát sự phát thải khí nhà kính nói chung, bao gồm thông qua việc áp dụng các công nghệ mới với những điều kiện làm cho việc áp dụng đó có lợi về kinh tế và xã hội. Quyết tâm bảo vệ hệ thống khí hậu cho các thế hệ hiện nay và mai sau[3].2 Ứng phó với biến đổi khí hậu: thích ứng và giảm nhẹ Theo báo cáo tổng hợp “Biến đổi khí hậu 2008” của IPCC thì giảm nhẹ BĐKH và thích ứng với BĐKH đều là những hợp phần của Chính sách Ứng phó với BĐKH: Ứng phó với BĐKH = Thích ứng + giảm nhẹ BĐKH gây ra những hậu quả năng nề với sự phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các nước và khu vực.
Trong cuộc chiến với BĐKH không một ai có thể đứng ngoài cuộc. Để giảm nhẹ các thiệt hại nặng nề do BĐKH gây ra người ta nghiên cứu áp dụng tổng hợp các biện pháp hướng tới sống chung với BĐKH với nhận thức BĐKH là một quá trình không thể đảo ngược được.Chúng ta chỉ có thể giảm nhẹ chúng và nỗ lực thích ứng với chúng. Vì vậy hướng đi chính hiện nay là nghiên cứu áp dụng các biện pháp phù hợp với tinh hình và khả năng của mỗi đối tượng, mỗi ngành, cộng đồng và trong từng thời điểm sao cho giảm được sự tổn thương do BĐKH hoặc các hiện tượng khí hậu cực đoan gây ra cho người dân cư trú và hoạt động sinh sống tại khu vực, nói cách khác làthích ứng với BĐKH.[1] Khác với thích ứng, công tác giảm nhẹ BĐKH là hành động cần thiết tác động tới nguyên nhân của BĐKH như việc đưa ra các biện pháp và cơ chế giảm phát thải khí nhà kính, Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường mới hoặc môi trường bị thay đổi.Sự thích ứng với BĐKH là sự n 8 điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để ứng phó với tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu,do đó làm giảm hoặc tận dụng những mặt có lợi,đồng thời tạo cho con người hoặc cộng đồng có sự chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện tinh thần, vật chất, kỹ năng và tập quán, thói quen sinh sống, ổn định sinh kế để họ có thể "sống chung"với sự thay đổi do các yếu tố khí hậu tác động đến khu vực quan tâm.