Tổng quan nghiên cứu

Xây dựng nông thôn mới tại các đô thị miền núi đang đứng trước yêu cầu vừa đẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng vừa nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam có khoảng 48% dân số lấy nông nghiệp làm sinh kế chính và gần 70% cư dân sinh sống tại khu vực nông thôn. Tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã tạo ra sức ép lớn đối với sinh kế vùng ven khi quỹ đất sản xuất bị thu hẹp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm thế nào để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và gia tăng thu nhập cho nông hộ trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống ngày càng hạn chế.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá thực trạng nguồn lực sinh kế và thu nhập của 105 hộ gia đình nông thôn, phân tích các nhân tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao thu nhập toàn diện gắn với tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được triển khai tại 7 thôn thuộc 3 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm xã Nông Thượng, xã Dương Quang và phường Huyền Tụng (khảo sát tổ dân phố Khuổi Pái thuộc Chương trình 135) trên địa bàn thành phố Bắc Kạn. Chuỗi số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2015 - 2017 và số liệu sơ cấp được điều tra thực địa vào năm 2018.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình được định lượng bằng các chỉ số cụ thể: mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn tại địa bàn khảo sát chỉ đạt 22,7 triệu đồng/người/năm (tương đương 1,9 triệu đồng/người/tháng). Kết quả này còn khoảng cách khá xa so với chỉ tiêu tối thiểu 36 triệu đồng/người/năm theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 áp dụng cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Đề tài mang lại cơ sở thực chứng giá trị giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và giải quyết việc làm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững kết hợp với lý thuyết hành vi kinh tế hộ nông dân của Chayanov và Frank Ellis để phân tích cách thức nông hộ phân bổ nguồn lực tự nhiên, tài chính, con người nhằm tối đa hóa thu nhập hỗn hợp. Khung phân tích kinh tế lượng xác định thu nhập hỗn hợp (Mixed Income - MI) theo mô hình chuẩn của tài khoản quốc gia:

MI = GO - IC - TSX - C1

Trong đó, GO là tổng giá trị sản xuất của nông hộ trong chu kỳ 1 năm, IC là chi phí trung gian vật chất, TSX là thuế sản xuất và C1 là chi phí khấu hao tài sản cố định.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm:

  1. Thu nhập hỗn hợp của hộ gia đình: Tổng hợp các khoản thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, tiền công, tiền lương và hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp.
  2. Hộ thuần nông: Nhóm hộ có 100% sinh kế và thu nhập phụ thuộc vào ngành nông nghiệp truyền thống.
  3. Hộ hỗn hợp kiêm ngành nghề: Nhóm nông hộ kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp với các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại hoặc đi làm thuê tại các đô thị.
  4. Chuẩn nghèo đa chiều: Được căn chỉnh theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tiêu chí thu nhập khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng và khu vực thành thị là 900.000 đồng/người/tháng, kết hợp cùng 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

Bên cạnh đó, luận văn tổng hợp cơ sở thực tiễn quốc tế như mô hình xí nghiệp hương trấn tại Trung Quốc giải quyết việc làm cho 120 triệu lao động nông thôn với thu nhập bình quân khoảng 2.500 Nhân dân tệ/tháng, phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) khởi xướng từ tỉnh Oita tại Nhật Bản và phong trào Saemaul Undong từ năm 1970 tại Hàn Quốc để rút ra bài học cho khu vực miền núi phía Bắc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thành phố Bắc Kạn giai đoạn 2015 - 2017 cùng các báo cáo chuyên đề của Phòng Kinh tế và Chi cục Thống kê thành phố Bắc Kạn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa cỡ mẫu 105 hộ gia đình nông thôn tại 7 thôn đại diện thuộc xã Nông Thượng, xã Dương Quang và tổ dân phố Khuổi Pái (phường Huyền Tụng).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên hệ thống, phân loại đối tượng điều tra theo nhóm dân tộc (người Tày, người Dao) và cơ cấu nghề nghiệp (hộ thuần nông, hộ hỗn hợp). Phương pháp thu thập dữ liệu gồm phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp từng chủ hộ bằng bảng hỏi chuẩn hóa và quan sát thực địa có sự tham gia của cộng đồng.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng thống kê mô tả (tần số, số trung bình, tỷ lệ phần trăm) và xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy đa biến là nhằm cô lập và lượng hóa mức độ tác động độc lập của từng biến số đầu vào (vốn sản xuất, diện tích đất canh tác, quy mô lao động, trình độ học vấn của chủ hộ, mức độ tham gia hoạt động phi nông nghiệp) lên biến phụ thuộc là thu nhập nông nghiệp và tổng thu nhập hỗn hợp của hộ, hạn chế hiện tượng nhiễu do các yếu tố môi trường tác động đồng thời.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng tại 105 nông hộ trên địa bàn thành phố Bắc Kạn ghi nhận 4 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, mức thu nhập bình quân của cư dân nông thôn ngoại thành đạt 22,7 triệu đồng/người/năm, tương đương 1,9 triệu đồng/người/tháng. Mức thu nhập này chỉ đạt khoảng 63% so với tiêu chí số 10 trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 dành cho vùng Trung du miền núi phía Bắc (36 triệu đồng/người/năm), cho thấy khoảng cách lớn giữa thực trạng và mục tiêu quy hoạch.

Thứ hai, tồn tại sự bất bình đẳng thu nhập sâu sắc giữa các nhóm dân tộc thiểu số tại cùng một địa bàn hành chính. Cụ thể, cộng đồng người Dao tại các thôn vùng cao chỉ đạt thu nhập bình quân 8,4 triệu đồng/người/năm (xấp xỉ 0,7 triệu đồng/người/tháng), mức này thấp hơn gần 3 lần so với nhóm hộ người Tày (đạt mức bình quân trên 25,1 triệu đồng/người/năm).

Thứ ba, sự phân hóa mạnh mẽ về thu nhập giữa các nhóm hình thức sinh kế. Nhóm hộ gia đình chuyển đổi sang mô hình hỗn hợp (kết hợp làm nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, xây dựng hoặc dịch vụ) có tổng thu nhập bình quân cao hơn khoảng 1,8 lần so với các nhóm hộ duy trì phương thức sản xuất thuần nông truyền thống.

Thứ tư, kết quả hồi quy đa biến cho thấy hệ số hồi quy của biến vốn đầu tư sản xuất và diện tích đất canh tác có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đối với cả thu nhập nông nghiệp lẫn thu nhập hỗn hợp. Khi hộ gia đình gia tăng thêm 10% vốn tự có hoặc vốn vay ưu đãi đầu tư vào thâm canh, thu nhập ròng từ nông nghiệp có khả năng tăng thêm khoảng 3,8% đến 4,5%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp xuất phát từ địa hình đồi núi chia cắt, diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người hạn hẹp và manh mún. Khả năng tích tụ ruộng đất để phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung gặp nhiều trở ngại. Ngoài ra, việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng chính sách còn nhiều rào cản do hộ nghèo và cận nghèo thiếu tài sản thế chấp.

Lực lượng lao động nông thôn tại địa phương dù dồi dào về số lượng nhưng phần lớn chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu. Lao động trẻ dịch chuyển vào khu vực đô thị chủ yếu làm các công việc phổ thông giản đơn, tạo ra nguồn thu bấp bênh và chưa thực sự quay trở lại tái đầu tư mở rộng sản xuất nông nghiệp tại quê hương.

Về mặt trực quan hóa số liệu, các kết quả nghiên cứu trên có thể được thể hiện rõ nét thông qua:

  1. Biểu đồ cột kép so sánh mức thu nhập bình quân giữa các nhóm dân tộc (người Dao với 8,4 triệu đồng/người/năm và người Tày với trên 25,1 triệu đồng/người/năm) đặt cạnh đường chuẩn 36 triệu đồng/người/năm của tiêu chí nông thôn mới.
  2. Bảng ma trận hồi quy đa biến trình bày các hệ số Beta chuẩn hóa, giá trị thống kê t, hệ số xác định R bình phương và mức ý nghĩa p-value để chứng minh mức độ đóng góp của từng biến số (vốn đầu tư, diện tích đất, số lao động) vào cơ cấu thu nhập hộ.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, kết quả luận văn tái khẳng định quy luật: nếu chỉ dựa thuần túy vào nguồn thu từ trồng trọt và chăn nuôi nhỏ lẻ thì tốc độ tăng thu nhập của nông hộ vùng cao rất chậm. Việc chuyển đổi sang kinh tế hỗn hợp, mở rộng ngành nghề phi nông nghiệp và liên kết thị trường chính là chìa khóa then chốt để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng, luận văn đề xuất gói 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn thành phố Bắc Kạn:

  1. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nông nghiệp đô thị và cánh đồng mẫu lớn:
  • Động từ hành động: Quy hoạch, chuyển đổi, ứng dụng quy trình thâm canh công nghệ cao và tiêu chuẩn VietGAP cho các loại cây ăn quả đặc sản, rau an toàn và hoa cây cảnh.
  • Mục tiêu đo lường: Nâng cao giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác thêm 20% đến 25% vào năm 2023.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2020 - 2023.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Kinh tế thành phố Bắc Kạn, Trạm Khuyến nông và UBND các xã Nông Thượng, Dương Quang.
  1. Mở rộng chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) gắn với tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
  • Động từ hành động: Xây dựng, chuẩn hóa chuỗi giá trị và đăng ký nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm nông sản chế biến, đồ gỗ mỹ nghệ và dược liệu bản địa.
  • Mục tiêu đo lường: Phát triển tối thiểu 3 đến 5 sản phẩm đạt chuẩn OCOP từ 3 sao trở lên, nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế chế biến nông sản lên 15% tổng thu nhập nông thôn.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2020 - 2024.
  • Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới thành phố Bắc Kạn, các Hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp liên kết.
  1. Phát triển mô hình du lịch sinh thái nông thôn gắn với bảo tồn văn hóa cộng đồng:
  • Động từ hành động: Thiết kế, liên kết tour tuyến tham quan trải nghiệm nông nghiệp và văn hóa bản địa của đồng bào Tày, Dao tại các xã vùng ven đô.
  • Mục tiêu đo lường: Tạo thêm việc làm tại chỗ cho khoảng 200 lao động thời vụ, gia tăng nguồn thu từ dịch vụ và thương mại địa phương thêm 18% mỗi năm.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2021 - 2025.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Bắc Kạn, Đoàn Thanh niên và chính quyền cấp xã.
  1. Đổi mới công tác đào tạo nghề và mở rộng tiếp cận tín dụng chính sách ưu đãi:
  • Động từ hành động: Tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp có địa chỉ, đơn giản hóa thủ tục vay vốn thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay.
  • Mục tiêu đo lường: Hằng năm đào tạo nghề cho khoảng 300 đến 400 lao động nông thôn; phấn đấu trên 85% hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi với mức dư nợ tăng tối thiểu 12%/năm.
  • Lộ trình: Triển khai liên tục hằng năm giai đoạn 2020 - 2025.
  • Chủ thể thực hiện: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên thành phố phối hợp cùng Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Bắc Kạn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối dữ liệu thực chứng và hàm ý chính sách sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp: Lợi ích và trường hợp ứng dụng: Lãnh đạo UBND thành phố Bắc Kạn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng số liệu thực trạng thu nhập của 105 hộ và chênh lệch giữa các dân tộc để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, điều chỉnh chỉ tiêu phân bổ ngân sách hỗ trợ sản xuất giai đoạn 2021 - 2025 sát với điều kiện thực tiễn từng xã, thôn bản.

  2. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Phát triển nông thôn: Lợi ích và trường hợp ứng dụng: Nguồn tài liệu học thuật giá trị để tham khảo về cách xây dựng khung lý thuyết kinh tế hộ, thiết kế bộ công cụ điều tra bảng hỏi bán cấu trúc tại vùng dân tộc thiểu số và quy trình xử lý dữ liệu bằng mô hình hồi quy đa biến trong nghiên cứu kinh tế lượng nông nghiệp.

  3. Lãnh đạo Hợp tác xã, chủ trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp: Lợi ích và trường hợp ứng dụng: Tham khảo các định hướng tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết 4 nhà, tiếp cận giải pháp tham gia chương trình OCOP và mô hình cánh đồng mẫu lớn nhằm tối ưu hóa chi phí trung gian và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tổ chức phát triển cộng đồng: Lợi ích và trường hợp ứng dụng: Căn cứ thực chứng về mức thu nhập thấp của nhóm người Dao (8,4 triệu đồng/người/năm) tại thôn Khuổi Pái để thiết kế các dự án can thiệp sinh kế đặc thù, hỗ trợ phụ nữ và thanh niên dân tộc thiểu số khởi nghiệp bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Thu nhập bình quân của người dân nông thôn tại thành phố Bắc Kạn theo kết quả khảo sát là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra sơ cấp tại 105 nông hộ, thu nhập bình quân của người dân đạt 22,7 triệu đồng/người/năm (tương đương 1,9 triệu đồng/người/tháng). Mức này còn thấp hơn nhiều so với tiêu chí quy định tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc là từ 36 triệu đồng/người/năm trở lên.

Nguyên nhân nào dẫn đến khoảng cách thu nhập lớn giữa nhóm dân tộc Tày và dân tộc Dao? Kết quả khảo sát chỉ ra nhóm người Dao chỉ đạt 8,4 triệu đồng/người/năm, thấp hơn gần 3 lần so với người Tày. Nguyên nhân là đồng bào Dao sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao hẻo lánh như tổ dân phố Khuổi Pái thuộc Chương trình 135, đất canh tác dốc, thiếu nguồn nước tưới, trình độ thâm canh hạn chế và khó tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa.

Mô hình hồi quy đa biến trong luận văn chứng minh yếu tố nào quyết định mạnh nhất đến thu nhập hộ? Phân tích hồi quy xác nhận vốn đầu tư sản xuất và quy mô diện tích đất canh tác hữu dụng có mối tương quan thuận mạnh nhất với mức ý nghĩa thống kê 1%. Khi nông hộ được bổ sung vốn đầu tư kỹ thuật và mở rộng diện tích thâm canh, tổng thu nhập hỗn hợp của hộ gia đình tăng lên rõ rệt so với nhóm hộ thiếu vốn.

Chuyển dịch sang mô hình kinh tế hỗn hợp mang lại lợi thế gì cho nông dân vùng ven đô? Số liệu nghiên cứu khẳng định các hộ gia đình kết hợp giữa làm nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và thương mại có thu nhập cao gấp 1,8 lần so với hộ thuần nông. Mô hình này giúp tận dụng tối đa thời gian nông nhàn, phân tán rủi ro mùa vụ và tạo nguồn tiền mặt thường xuyên để trang trải sinh hoạt gia đình.

Luận văn đã sử dụng quy mô mẫu khảo sát như thế nào để bảo đảm độ tin cậy khoa học? Đề tài tiến hành điều tra chọn mẫu phân tầng trên 105 hộ gia đình tại 7 thôn thuộc 3 đơn vị hành chính cơ sở (xã Nông Thượng, xã Dương Quang và phường Huyền Tụng). Phương pháp này bao quát được cả vùng sản xuất nông nghiệp ven đô lẫn thôn đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135, bảo đảm tính đại diện cao cho bức tranh sinh kế toàn thành phố.

Kết luận

Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới tại thành phố Bắc Kạn đã tổng kết được 5 luận điểm then chốt:

  • Thu nhập bình quân của cư dân nông thôn mới đạt 22,7 triệu đồng/người/năm, chưa đáp ứng chuẩn 36 triệu đồng/người/năm theo tiêu chí quốc gia.
  • Sự bất bình đẳng thu nhập giữa nhóm người Tày và người Dao còn rất lớn khi thu nhập người Dao chỉ đạt 8,4 triệu đồng/người/năm.
  • Chuyển dịch sinh kế từ thuần nông sang mô hình kinh tế hỗn hợp giúp nâng cao thu nhập của nông hộ lên 1,8 lần.
  • Vốn đầu tư sản xuất và quy mô diện tích canh tác là hai nhân tố có tác động tích cực nhất đến tăng trưởng thu nhập hỗn hợp.
  • Hệ thống giải pháp cần tập trung vào nông nghiệp đô thị, chương trình OCOP, du lịch nông thôn và đào tạo nghề phi nông nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh số liệu định lượng chuẩn xác về thực trạng thu nhập của từng nhóm nông hộ tại địa bàn miền núi. Kế hoạch triển khai giai đoạn 2020 - 2025 cần tập trung nguồn lực thực hiện đồng bộ 4 nhóm giải pháp đề xuất nhằm đưa thu nhập bình quân khu vực nông thôn thành phố Bắc Kạn đạt ngưỡng quy chuẩn nông thôn mới nâng cao.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, ban quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới và các nhà nghiên cứu hãy cùng tham khảo, chia sẻ và áp dụng ngay các kiến nghị thực chứng từ công trình này vào thực tiễn chỉ đạo điều hành tại cơ sở.