CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm bộ răng sữa, răng vĩnh viễn và bệnh lý răng trẻ em 1. Đặc điểm bộ răng sữa và răng vĩnh viễn Theo hiệp hội Răng trẻ em Mỹ (1999): Răng trẻ em là một khái niệm chuyên biệt về tuổi, bao gồm chăm sóc răng miệng ban đầu và chuyên khoa, toàn diện cả về điều trị và dự phòng ở trẻ em đến tuổi vị thành niên. Có nhiều cách để phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ dựa vào giai đoạn phát triển thể chất, vận động, tâm lý và dựa theo sự phát triển của hàm răng.
Do đó sự phát triển của trẻ em được phân chia làm bốn giai đoạn như sau: Giai đoạn từ thụ thai đến 3 tuổi: hàm răng sữa mọc lên hoàn chỉnh trong miệng Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi: hàm răng sữa Giai đoạn từ 6 đến 12 tuổi: hàm răng hỗn hợp Giai đoạn từ 12 đến 18 tuổi: hàm răng vĩnh viễn [16] * Giai đoạn từ thụ thai đến 3 tuổi: Trước khi sinh: - 3 tháng đầu: tuần đầu tiên gọi là giai đoạn mầm, sự biệt hóa của nội bì và ngoại bì xảy ra trong tuần lễ thứ 2 và sự biệt hóa trung bình xảy ra tuần thứ 3. Tuần thứ 4 được đánh dấu bởi sự hình thành lá răng. Vào khoảng tuần thứ 6, mầm răng sữa phát triển trong mô ngoại bì của lá răng và sự xâm nhập của mô liên kết bên dưới bắt đầu hình thành nhú răng. Cuối tháng thứ 3, xuất hiện phổi tim và mẩu khẩu cái đóng kín [16].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự phát triển của lá răng [91] - 3 tháng giữa: Thân răng sữa bắt đầu vôi hóa khoảng tuần thứ 14 đối với răng cửa và răng cối thứ nhất, khoảng tuần thứ 16-18 với răng nanh và răng cối thứ 2. Trình tự vôi hóa răng sữa: răng cửa giữa, răng cối thứ nhất, răng cửa bên, răng nanh và răng cối thứ 2. Cùng với sự vôi hóa, các mầm răng vĩnh viễn bắt đầu phát triển ở phía lưỡi của răng sữa.
- 3 tháng cuối: là thời kỳ đánh giá khả năng sống của thai nhi. Từ năm đầu đến 3 tuổi: Đối với răng sữa: 8 răng cửa: thân răng hoàn tất vào khoảng 4-6 tháng trước khi mọc 12 răng còn lại: thân răng hoàn tất vào khoảng 6-12 tháng trước khi mọc Chân răng hoàn tất vào một năm sau Răng: khi trẻ được 24 đến 30 tháng thì trẻ có đủ 20 răng sữa. Sự vôi hóa thân răng vĩnh viễn bắt đầu lúc sinh với những răng cối thứ nhất, giữa 3-12 tháng tuổi đối với những răng trước và giữa 1,5 - 3 năm cho những răng còn lại trừ răng cối thứ 3. *Giai đoạn từ 3 - 6 tuổi: Thân răng vĩnh viễn hoàn tất vào khoảng 3 năm trước khi răng đó mọc.
Do đó, các răng cửa vĩnh viễn và răng cối thứ nhất hoàn tất sự thành lập men trong thời kỳ này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 *Giai đoạn từ 6 – 12 tuổi: Là giai đoạn chuyển giao từ răng sữa sang răng vĩnh viễn. Sự chuyển giao này được gọi là thời kỳ răng hỗn hợp, trong thời kỳ này tất cả 20 răng sữa rụng đi và 28 răng vĩnh viễn mọc. Sự hoàn tất chân răng của mỗi răng vĩnh viễn xảy ra khoảng 3 năm sau khi răng sữa rụng đi.
Sự mọc các răng vĩnh viễn được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: mọc răng cối lớn thứ nhất và các răng cửa giữa vĩnh viễn Giai đoạn 2: mọc các răng cửa bên vĩnh viễn Giai đoạn 3: Mọc răng nanh, răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ 2 bắt đầu từ 10 đến 12-13 tuổi. Giai đoạn 4: Mọc răng khôn [16]. Một số đặc điểm bệnh lý răng trẻ em Các vấn đề răng miệng thường gặp ở trẻ em: - Sâu răng: sâu răng sữa, sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm và giai đoạn muộn. - Bệnh vùng quanh răng: bao gồm nhóm các bệnh ảnh hưởng đến cấu trúc nâng đỡ của răng: lợi tự do, lợi bám dính, dây chằng quanh răng, cement và xương ổ răng.
Các bệnh vùng quanh răng được chia làm 2 nhóm bệnh chính: viêm lợi và viêm quanh răng + Viêm lợi: viêm lợi cấp, viêm lợi mạn, phì đại lợi do dùng thuốc, viêm lợi do sang chấn. + Viêm quanh răng mạn tính ít gặp ở trẻ em, nếu có gặp các tổn thương phá hủy quanh răng ở trẻ em thường liên quan đến một vài sai lệch về đáp ứng của vật chủ như hội chứng Down, bệnh đái tháo đường ở người trẻ. - Một số bệnh tủy răng sữa: Chẩn đoán bệnh lý tủy răng sữa rất phức tạp do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Để chẩn đoán xác định cần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phải có sự đối chiếu chặt chẽ giữa lâm sàng và cận lâm sàng để chẩn đoán tình trạng bệnh lý, giai đoạn sinh lý của răng, tình trạng mầm răng bên dưới.
+ Viêm tủy + Hoại tử tủy không có bệnh quanh chóp: đây là bệnh lý hay gặp nhất trong bệnh lý tủy răng trẻ em + Hoại tử tủy có biến chứng vùng quanh chóp + Hội chứng vách + Hội chứng chẽ răng - Một số bệnh lý tủy răng vĩnh viễn: Viêm tủy có hồi phục và viêm tủy không hồi phục. Tóm lại: đặc điểm sinh lý răng miệng nổi bật của trẻ em là quá trình phát triển qua từng giai đoạn, từng độ tuổi khác nhau thấy ở tất cả các vùng răng, miệng – hàm mặt. Các bệnh lý răng miệng đặc trưng ở trẻ em có liên quan chặt chẽ với chế độ ăn uống, hướng dẫn vệ sinh răng miệng và phương pháp dự phòng răng miệng. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xin phân tích sâu hơn về bệnh sâu răng, một số yếu tố liên quan và dự phòng bệnh răng miệng đặc biệt bệnh sâu răng vĩnh viễn giai đoạn sớm ở trẻ em [16].
Bệnh sâu răng và sâu răng giai đoạn sớm 1. Một số định nghĩa 1. Định nghĩa bệnh sâu răng Tại hội nghị quốc tế về sâu răng lần thứ 50 năm 2003, các tác giả đều thống nhất: sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức cứng của răng, được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng đồng thời là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn có trong mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ.
Quá trình này diễn tiến liên tục, nhưng giai đoạn sớm có thể hoàn nguyên và giai đoạn muộn không thể hoàn nguyên [57]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Định nghĩa bệnh sâu răng sớm Theo định nghĩa của Viện Hàn lâm Nha khoa trẻ em Hoa Kỳ (AAPD), sâu răng sớm ở trẻ em là tình trạng xuất hiện một hoặc nhiều tổn thương sâu (có thể đã hình thành lỗ sâu hoặc chưa), mất răng (do sâu răng), các mặt răng sâu đã được trám trên bất kỳ răng sữa nào ở trẻ 71 tháng tuổi hoặc nhỏ hơn [16]. Định nghĩa sâu răng giai đoạn sớm Hiện tượng giảm độ pH dẫn tới sự khử khoáng làm tăng cường khoảng cách giữa các tinh thể Hydroxyapatite, mất khoáng bắt đầu ở dưới bề mặt men, tổn thương lâm sàng mất 10% lượng chất khoáng được gọi là sâu răng giai đoạn sớm [66].
Bệnh căn sâu răng Sâu răng là bệnh do nhiều yếu tố gây nên. Cơ chế bệnh sinh sâu răng Nguồn: Fejerskov và Manji [49] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của vi khuẩn và mảng bám răng * Yếu tố vi khuẩn Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng. Hydratcarbon trong thức ăn được chuyển hóa thành Glucose sau đó được polymer hóa thành Dextran bởi enzym dextranaze và glucosyltransferase [49].
Dextran có tính bám dính nên tạo điều kiện để các vi khuẩn khác và các mảnh thức ăn bám thêm vào [11],[29]. Các vi khuẩn tham gia chủ yếu vào quá trình này là Streptococcus mutans, Actinomyces viscosus, S. sobrinus và một số chủng Lactobacillus [32],[41]. Hiệp hội nha khoa Mỹ năm 2006, đã xếp việc đếm số lượng vi khuẩn Streptococcus mutans trong nước bọt của bệnh nhân là một trong các tiêu chí khi đánh giá yếu tố nguy cơ gây sâu răng [28].
* Màng sinh học (Biofilm) Màng sinh học là một quần thể các vi khuẩn sống trong những cấu trúc có tổ chức ở giao diện giữa một mặt cứng và chất lỏng tồn tại trên bề mặt răng [34],[82]. Khả năng gây sâu răng của mảng bám phụ thuộc vào độ dính của chúng lên răng, khả năng gây axit (các axit Lactic, Formic) từ đường C12 và C6, độ pH của môi trường miệng [73],[83]. ADA Mỹ năm 2006, cũng đã đưa việc kiểm tra mảng bám trên răng là một trong các tiêu chí quan trọng khi đánh giá yếu tố nguy cơ gây sâu răng [28]. Vai trò của Carbonhydrat Các loại đường khác nhau có sự khác biệt nhỏ về khả năng gây axit, trong đó Sucrose có vai trò đặc biệt quan trọng vì đó là chất nền duy nhất để tổng hợp các Glucan ngoại bào tan và không tan trong nước.
Những Glucan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 không tan trong nước làm tăng sự tích tụ của Streptococcus mutans trên bề mặt láng của răng, làm thay đổi hệ sinh thái của mảng bám răng, làm tăng nguy cơ sâu răng do làm tăng độ xốp của mảng bám, tạo nên nhiều axit sát với bề mặt răng hơn, thúc đẩy quá trình hủy khoáng của răng [38]. Các yếu tố nội sinh của răng * Cấu trúc mô học và hóa học của men răng - Men răng có nguồn gốc ngoại bì, men răng là một tổ chức cứng nhất cơ thể. - Về mặt lý học: men răng cứng, giòn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ 2,3 - 3 so với ngà răng. - Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng.
- Về mặt hóa học gồm: + Thành phần hữu cơ Thành phần hữu cơ của men răng là các cấu trúc sợi. Cấu trúc này thấy ở khắp nơi nhưng ở vùng vỏ trụ men thì dày đặc hơn. Hướng của sợi cũng sắp xếp theo như hướng của các tinh thể vô cơ. Ở trong trụ men, hướng của sợi dọc theo hướng trục của trụ men.
Ở vùng giữa các trụ men, hướng của sợi đi chéo hướng 400 đối với trục của trụ men. Nhiều tác giả cho rằng cấu trúc sợi hữu cơ của men là một loại protein loại keratin, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nhất trí nó thuộc loại keratin nào [20].