MỞ ĐẦU I. Sự cần thiết Ngày nay Công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành yếu tố quan trọng xây dựng thành công nền hành chính điện tử, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam. Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc (CQNN) đƣợc quan tâm, chỉ đạo, đầu tƣ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển một số ứng dụng cơ bản trong quản lý, điều hành và các cơ sở dữ liệu phục vụ cho các ngành kinh tế - xã hội, bƣớc đầu thực hiện có hiệu quả và thu đƣợc những kết quả nhất định. Sự bùng nổ của CNTT-TT song hành với sự gia tăng chóng mặt của thông tin, nội dung số trong cơ quan nhà nƣớc, các quy trình nghiệp vụ hành chính cũng dần đƣợc tin học hóa, việc tạo lập cơ sở dữ liệu từ các tài liệu/hồ sơ giấy phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ của mình đã và đang đƣợc các Bộ/Ngành và các địa phƣơng rất quan tâm.
Bên cạnh đó, nhu cầu chia sẻ dữ liệu, trao đổi thông tin và tƣơng tác giữa các hệ thống thông tin và giữa các cơ quan, tổ chức ngày càng tăng để tránh lãng phí tài nguyên, tiết kiệm thời gian. Do văn bản là công cụ hiệu quả đƣợc sử dụng trong mối quan hệ tƣơng tác giữa các cơ quan nhà nƣớc với nhau, do đó đòi hỏi cần phải có các giải pháp thích hợp để giúp các cơ quan quản lý các nguồn thông tin, văn bản một cách khoa học, phục vụ việc chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ ra quyết định, truy cứu trách nhiệm, lƣu trữ. Một trong các giải pháp mà chính phủ điện tử của các nƣớc đang dùng là sử dụng Metadata, hay còn gọi là dữ liệu đặc tả hoặc siêu dữ liệu. Dữ liệu đặc tả này là thông tin về vị trí văn bản, ngƣời sở hữu văn bản, lịch sử hoạt động của văn bản, quyền truy nhập văn bản.
Các thông tin này gọi là metadata quản lý văn bản. Metadata quản lý bao gồm tất cả các thông tin về văn bản, về tác nhân (con ngƣời hoặc tổ chức), về nghiệp vụ đƣợc sử dụng để quản lý các văn bản phát sinh ra trong quá trình hoạt động của cơ quan. Metadata quản lý là một phần không tách rời trong việc quản lý văn bản, phục vụ một loạt các chức năng và mục đích. Metadata đảm bảo tính xác thực, độ tin cậy, tính tiện dụng và toàn vẹn qua thời gian.
Trong suốt sự tồn tại của văn bản, các lớp mới của metadata sẽ đƣợc bổ sung, điều này có nghĩa là dữ liệu đặc tả tiếp tục tích lũy qua thời gian, thông tin liên quan đến bối cảnh của việc quản lý văn bản và quy trình nghiệp vụ trong đó các văn bản đƣợc sử dụng. Metadata có thể đƣợc sử dụng trong nhiều mục đích khác nhau để cơ quan/tổ chức xác định, xác thực, mô tả, tìm kiếm, và quản lý các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nguồn tài nguyên của họ một cách có hệ thống sao cho thỏa mãn đƣợc các yêu cầu của các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan. Tuy nhiên, đại đa số các cơ quan nhà nƣớc ta hiện nay, khi xây dựng hệ thống quản lý văn bản, các khái niệm và chuẩn mực về metadata quản lý văn bản chƣa đƣợc quan tâm đầy đủ và chính xác nên các hệ thống văn bản đƣợc xây dựng tại các cơ quan nhà nƣớc đều có nhiều mặt hạn chế cả về quản lý dữ liệu cũng nhƣ trao đổi dữ liệu. Hiện tại, có Thông tƣ 24/2011/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông Quy định về việc tạo lập, sử dụng và lƣu trữ dữ liệu đặc tả trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nƣớc; Nghị định 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nƣớc đã có quy định về dữ liệu đặc tả, tuy nhiên, việc quy định trong Nghị định mới chỉ ở mức đƣa ra định nghĩa, khái niệm về dữ liệu đặc tả mà chƣa có quy định cụ thể về việc tạo lập dữ liệu đặc tả cho quản lý văn bản.
Vì vậy, việc xây dựng và đƣa ra quy định về metadata cho quản lý văn bản của cơ quan nhà nƣớc tại Việt Nam là rất cần thiết, đảm bảo sự thống nhất sử dụng giữa các cơ quan nhà nƣớc nhằm phục vụ tốt cho việc tìm kiếm thông tin của tổ chức, cá nhân, bảo đảm sự trao đổi và duy trì nguồn thông tin giữa các cơ quan nhà nƣớc. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Các hoạt động chính đối với văn bản nói chung và văn bản điện tử nói riêng bao gồm: tạo lập, lƣu trữ, xử lý và trao đổi văn bản. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ đi sâu vào phân tích hai công đoạn tạo lập và lƣu trữ văn bản, là hai hoạt động tạo nên hạ tầng cơ sở dữ liệu để thực hiện các thao tác và hoạt động khác trên dữ liệu. Do vậy, đề tài chỉ tập chung vào tìm hiểu metadata cho công đoạn tạo lập và lƣu trữ văn bản phục vụ cho việc quản lý, truy cập, tìm kiếm các văn bản của cơ quan nhà nƣớc.
Nội dung các chƣơng Chƣơng 1 – DỮ LIỆU ĐẶC TẢ: Giới thiệu các khái niệm và định nghĩa, một số chuẩn metadata và ứng dụng metadata cho quản lý văn bản ở một số nƣớc trên thế giới. Chƣơng 2 - MÔ HÌNH THỰC THỂ VÀ CÁC HOẠT ĐÔNG QUẢN LÝ VĂN BẢN TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC: Đƣa ra khung pháp lý hiện hành quy định về văn bản, văn bản điện tử; Hiện trạng sử dụng hệ thống quản lý văn bản trong các cơ quan nhà nƣớc và mô hình hóa hoạt động quản lý văn bản trong các cơ quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chƣơng 3 - DỮ LIỆU ĐẶC TẢ DÙNG CHO QUẢN LÝ VĂN BẢN ĐIỆN TỬ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC: Trình bày dữ liệu đặc tả (metadata) cho quản lý văn bản điện tử: Dữ liệu đặc tả tạo lập, lƣu trữ văn bản điện tử; Tra cứu văn bản điện tử dựa trên metadata. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chƣơng 1.
DỮ LIỆU ĐẶC TẢ 1. Các khái niệm và định nghĩa 1. Văn bản Văn bản là thông tin đƣợc tạo ra, nhận đƣợc, sửa đổi tƣờng minh bởi cơ quan hoặc cá nhân tuân thủ các yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan. Văn bản số là đơn vị tài liệu của cơ sở dữ liệu.
Hệ thống văn bản Hệ thống văn bản là tập hợp các văn bản đƣợc tổ chức và đƣợc quản lý. Lập chỉ mục ngƣợc (revert indexing) Lập chỉ mục ngƣợc là quá trình tạo lập các điểm truy nhập để lấy ra bản ghi hoặc của thông tin trong hệ thống. Metadata Metadata là những thông tin mô tả các đặc tính của dữ liệu nhƣ nội dung, định dạng, chất lƣợng, điều kiện và các đặc tính khác nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tìm kiếm, truy nhập, quản lý và lƣu trữ dữ liệu (Thông tư số 24/2011/TT- BTTTT). Hồ sơ Hồ sơ là một tập tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tƣợng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Kho dữ liệu số Kho dữ liệu số là nơi lƣu trữ các dữ liệu văn bản điện tử, có khả năng truy cập dữ liệu theo các nghi thức chuẩn, dữ liệu có thể đƣa vào và lấy ra dễ dàng. Trong luận văn này, các thuật ngữ “Văn bản„,“Hệ thống văn bản„ được xem là tương đương với thuật ngữ „Bản ghi“, „Hệ thống bản ghi“. Do vậy, việc dùng thuật ngữ „văn bản“ hay „bản ghi“ và thuật ngữ „hệ thống văn bản“ hay „hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 thống bản ghi“ là được hiểu như nhau. Các chuẩn mực tham khảo áp dụng ANSI/NISO Z 39.85-2001 Chuẩn Dublin Core (Tập yếu tố Dublin Core đƣợc Tổ chức Chuẩn Quốc tế (̣ ISO) chấp thuận ngày 26 tháng 2 năm 2003).
Dublin Core là chuẩn dùng để mô tả dữ liệu trong các thẻ siêu dữ liệu nhằm khai thác các tài liệu trong thƣ viện và trên các web thông qua internet. Tập hợp yếu tố dữ liệu đặc tả Dublin Core này đƣợc gọi là “cốt lõi” (core) vì nó đƣợc thiết kế đơn giản và chỉ bao gồm 15 yếu tố mô tả cốt lõi nhất. Các yếu tố siêu dữ liệu Dublin Core có những ƣu điểm sau: + Tạo lập và sử dụng dễ dàng: Cho phép những ngƣời không chuyên nghiệp có thể tạo các bản ghi mô tả đơn giản cho các tài nguyên thông tin và truy xuất chúng trên môi trƣờng mạng một cách dễ dàng. + Ngữ nghĩa dễ hiểu, sử dụng đơn giản: Việc khai thác thông tin trên mạng internet diện rộng thƣờng gặp trở ngại bởi những sự khác nhau về thuật ngữ và sự mô tả thực tế.
Dublin Core Metadata giúp những ngƣời dò tìm thông tin không chuyên có thể tìm thấy vấn đề mình quan tâm bằng cách hỗ trợ một tập hợp các phần tử thông dụng mà ngữ nghĩa của chúng đƣợc hiểu phổ biến. + Phạm vi phổ biến: Tập hợp các phần tử Dublin Core Metadata lúc đầu đƣợc phát triển bằng tiếng Anh, nhƣng hiện nay nó đƣợc câp nhật thêm với khoảng 25 ngôn ngữ khác nhau. + Tính mở rộng: Những nhà phát triển Dublin Core đã cung cấp một cơ chế cho việc mở rộng tập các phần tử Dublin Core, phục vụ nhu cầu khai thác các tài nguyên bổ sung. Các phần từ Metadat từ những tập các phần tử khác nhau có thể liên kết với metadata của Dublin Core.
Điều này cho phép các tổ chức khác nhau có thể dùng các phần tử Dublin Core để mô tả thông tin thích hợp cho việc sử dụng tài nguyên trên Internet. + Giúp nâng cao độ chính xác của định chỉ số + Có khả năng liên tác (Interoperability), sử dụng lẫn nhau + Mở rộng thuận lợi Mỗi yếu tố Dublin Core đƣợc đặt tên (Element Name) và quy định nhãn (label) để sử dụng ghi vào trong thẻ meta. Mỗi yếu tố đƣợc định nghĩa cụ thể để mô tả đối tƣợng và có chú thích rõ ràng. Yếu tố dữ liệu đặc tả là thuộc tính đƣợc sử dụng để mô tả tài nguyên thông tin.
Mỗi yếu tố dữ liệu đặc tả có thể có một hoặc nhiều yếu tố con. Các yếu tố siêu dữ liệu Dublin Core bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.