CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô cùng với lúa mỳ và lúa nước là 3 cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới. Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn. Năm 2011, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 172,7 triệu ha, năng suất bình quân 51,4 tạ/ha, sản lượng 887,8 triệu tấn.
Năm 2016, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 194,3 triệu ha (tăng 12,5% so với năm 2011), năng suất bình quân 57,8 tạ/ha (tăng 12,5% so với năm 2011), sản lượng 1. Năm 2021 diện tích trồng ngô là 205,9 triệu ha (tăng 6% so với năm 2016), năng suất đạt 58,8 tạ/ha (tăng 1,7% so với năm 2016), sản lượng 1. Như vậy, so sánh 5 năm gần đây với 5 năm trước (giai đoạn 2011 - 2016) diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế giới tăng trưởng chậm lại [168]. Trong đó, Mỹ, Trung Quốc, Brazin là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng.
Dân số thế giới ngày một tăng, năm 2011 là 7.013,4 triệu người, năm 2016 là 7432,7 triệu người (tăng khoảng 6% so với năm 2011) và đến năm 2021, tăng 12,5% so với năm 2016, chạm ngưỡng 8 tỷ người. Như vậy, sự gia tăng dân số thế giới giai đoạn 2016 - 2021 tăng hơn 2 lần so với giai đoạn 2011 - 2016 [167]. Để đáp ứng an ninh lương thực, thực phẩm và làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, nhu cầu về ngô tiếp tục gia tăng trong những năm tiếp theo. Trên thế giới, cây ngô có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của nhiều nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho người, thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm.
Trước những thách thức về biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai gây ra, nhu cầu con người ngày một tăng việc nghiên cứu, ứng 5 dụng các phương pháp hiện đại trong chọn tạo giống như công nghệ gen, ứng dụng chỉ thị phân tử, công nghệ kích tạo đơn bội nhằm tạo ra dòng/giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống với những yếu tố bất lợi sinh học, phi sinh học đang được nghiên cứu thực hiện trong những năm gần đây [77]. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới giai đoạn 2014 - 2021 Nguồn: (FAOSTAT, 2023)[168] 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Tại Việt Nam ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa nước và là cây màu quan trọng nhất. Ngô không những cung cấp lương thực cho người, làm thức ăn cho chăn nuôi mà còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học, làm bánh kẹo, đóng đồ hộp, làm dược phẩm.
Ngành sản xuất ngô của Việt Nam tăng trưởng liên tục trong 25 năm qua. Thành công đó có phần đóng góp quan trọng của chương trình phát triển giống ngô lai Việt Nam và các công ty giống đa quốc gia đưa vào trồng trên phạm vi cả nước. 6 Năm 1991, diện tích trồng giống lai chiếm chưa đến 1% của hơn 447 nghìn ha trồng ngô, năng suất đạt 15,0 tạ/ha và sản lượng đạt 672 nghìn tấn. Đến năm 2011, diện tích trồng ngô đạt 1.121,3 nghìn ha, năng suất đạt 43,13 tạ/ha, với sản lượng 4.
Năm 2016, diện tích trồng ngô Việt Nam đạt 1.151,8 nghìn ha (tăng 2,7% so với năm 2011), năng suất đạt 45,53 tạ/ha (tăng 5,6% so với năm 2011), sản lượng đạt 5.00 ha); Sản lượng (1.6 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 2016 2018 2020 2022 Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) Năng suất (tạ/ha) Hình 1. Diện tích năng suất sản lượng ngô Việt Nam giai đoạn 1990 - 2021 (Nguồn: FAOSTAT, 2023)[168] So với năm 2016, năm 2021 diện tích trồng ngô Việt Nam là 900,7 nghìn ha (giảm 21,8%), năng suất đạt 49,37 tạ/ha (tăng 7,8%), với sản lượng 4. So với năm 1990 khi chưa trồng giống lai thì năm 2021 diện tích tăng 2,0 lần, năng suất tăng 3,3 lần và sản lượng tăng 6,6 lần. Tuy nhiên năng suất ngô Việt Nam chỉ bằng 83% so với năng suất ngô trung bình của thế giới [168].
7 Như vậy, nhu cầu về ngô vẫn tiếp tục tăng trong những thập niên tiếp theo, không những trên phạm vi toàn cầu nói chung mà còn ở Việt Nam nói riêng. Trong khi đó, việc tăng diện tích sản xuất ngô là có giới hạn, chương trình ngô toàn cầu và các chương trình quốc gia đang nỗ lực tập trung vào tăng năng suất, sản lượng. Việt Nam, không nằm ngoài xu hướng chung đó, một trong những định hướng trong chương trình phát triển ngô ở Việt Nam là phát triển những giống ngô lai có khả năng chịu hạn, năng suất cao, ổn định phục vụ cho nhu cầu của sản xuất [4], [8], [17]. Để chọn tạo giống ngô lai chịu hạn, có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau như: Công nghệ chuyển gen chịu hạn, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ đơn bội [166].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án này, tác giả đã lựa chọn ứng dụng công nghệ kích tạo đơn bội để tạo dòng ngô đơn bội kép chịu hạn. Các phần sau sẽ giới thiệu chi tiết về công nghệ và những ứng dụng trong chọn tạo và phát triển giống ngô lai. Những nghiên cứu tạo dòng ngô đơn bội kép bằng cây kích tạo đơn bội 1. Cơ sở di truyền của cây kích tạo đơn bội Khả năng kích tạo đơn bội được kiểm soát bởi đa gen [86].
Để tìm hiểu cơ sở di truyền của việc tạo ra thể đơn bội, một số nghiên cứu về lập bản đồ QTL giữa cây kích tạo đơn bội và cây ngô thông thường đã được thực hiện, các nhà nghiên cứu đã xác định được 8 QTL khác biệt của cây kích tạo đơn bội so với cây ngô thông thường [118]. Deimling và cộng sự năm 1997 đã tiến hành lập bản đồ di truyền đầu tiên cho cây kích tạo đơn bội [62]. Kết quả lập bản đồ di truyền đã xác định được 2 QTLs trên nhiễm sắc thể (NST) số 1 và số 2 giải thích 17,9% sự khác biệt của phương sai kiểu hình và 1 QTL chính nằm trên NST số 1 được cho là ảnh hưởng lớn đến việc tạo ra thể đơn bội [31]. Để làm rõ hơn về cơ sở di truyền, một chương trình lập bản đồ với số lượng lớn các quần thể, kết quả đã xác định QTL qhir1 nằm trên nhiễm sắc thể số 1 (bin 1.04) và qhir8 trên nhiễm sắc thể số 9 (bin 9.01) được cho là gây ra kích tạo đơn bội với kết quả phân tích phương sai kiểu gen ở mức 66% và 8 20%[117].
Nghiên cứu kết hợp trên toàn bộ hệ gen (GWAS) đã sử dụng 53 dòng ngô kích tạo đơn bội và 1.482 nguồn ngô không phải là kích tạo đơn bội, kết quả đã chia qhir1 thành 2 vùng, vùng qhir11 và qhir12, đánh giá tỉ lệ đơn bội của các kiểu gen của 2 vùng kết quả cho thấy chỉ có vùng qhir11 mới có liên quan đáng kể đến việc gây ra kích tạo đơn bội [78], [110]. Trong vùng qhir11, một gen mã hóa phospholipase A được ba nhóm nghiên cứu độc lập xác định là nguyên nhân gây ra đơn bội và được đặt tên là MTL [84], NLD [75] và ZmPLA1 [91]. Những nghiên cứu gần đây đã xác định, gen ZmDMP mã hóa protein DUF679 nằm trong QTL qhir8 là nguyên nhân làm thay đổi trình tự nucleotide để tạo đơn bội [164]. Nghiên cứu của Yuan Li năm 2021 đã xác định alen mất chức năng (ZmPLD3) cũng là một trong những nguyên nhân gây ra đơn bội [89].
Đến nay, cơ sở di truyền để kích hoạt, tạo ra thể đơn bội tiếp tục được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và làm rõ. Quá trình hình thành và phát triển của cây kích tạo đơn bội Stadler và Randolph là những người đầu tiên mô tả, phát hiện ra tỷ lệ đơn bội trong quần thể ngô tự nhiên [109]. Khoảng hai thập kỷ sau, Chase đã tìm ra hạt đơn bội ở tần suất thấp khoảng 1/1.000 ở các nguồn vật liệu ngô khác nhau ở Mỹ [58]. Các nhà nghiên cứu chọn tạo giống đã nhận thấy tiềm năng lớn của tạo đơn bội trong nghiên cứu di truyền và chọn tạo giống ngô.
Do vậy, có nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo được thực hiện với mục tiêu tạo ra cây kích tạo đơn bội mới (kích tạo đơn bội)[74]. Trong phương pháp tạo dòng bằng cây kích tạo đơn bội, các nguồn vật liệu ưu tú được sử dụng làm mẹ, dòng bố là cây kích tạo đơn bội được lấy phấn để lai sang nguồn mẹ, thể đơn bội được tạo ra sẽ thừa hưởng toàn bộ nền di truyền từ tế bào chất và di truyền từ nhân của nguồn mẹ [56]. Do vậy, sự đa dạng về di truyền của các dòng ngô đơn bội kép được tạo ra phụ thuộc vào nguồn mẹ, nguồn vật liệu khởi đầu tạo ra nguồn mẹ, phương pháp này có tiềm năng di truyền trong tạo dòng ngô đơn bội kép phục vụ cho chương trình chọn 9 tạo giống ngô lai. Nguồn kích tạo đơn bội đầu tiên được tạo ra với tên gọi là Stock6 có thể gây kích tạo đơn bội với tỷ lệ trung bình đạt từ 1 - 3 % [43].
Những nghiên cứu tiếp theo với mục tiêu cải thiện tính thích ứng của cây kích tạo đơn bội trong các điều kiện khí hậu và nâng cao tỷ lệ tạo đơn bội (HIR) dựa trên nguồn kích tạo ban đầu Stock6 đã được thực hiện [133]. Trong suốt hai thập kỷ, cây kích tạo stock 6 đã được sử dụng để phát triển ra cây kích tạo đơn bội mới với đặc tính nông học tốt và cho tỷ lệ hạt đơn bội cao, như hai nguồn kích tạo UH400, RWS được Röber và cộng sự năm 2005 tạo ra [125], MHI được Chalyk năm 1999 chọn tạo [53] và PHI đã được Rotarenco và cộng sự năm 2010 nghiên cứu chọn tạo [127]. Các nguồn kích tạo đơn bội mới này đều thích ứng tốt với nhiều điều kiện môi trường ôn đới khác nhau, tỷ lệ từ HIR trong khoảng 6-15%, từ đó các nhà nghiên cứu đã đưa ra định hướng tạo dòng đơn bội kép (DH) với quy mô lớn phục vụ cho các chương trình chọn tạo giống ngô lai thương mại. Trước năm 2012, cây kích tạo đơn bội có tỷ lệ đơn bội cao chỉ thích ứng tốt trong điều kiện ôn đới và chưa thích ứng và phổ biến với điều kiện nhiệt đới.