CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Người lao động Tại khoản 1 Điều 3 Bộ l Lao động năm 2012 định nghĩa: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Người lao động có thể là người: - Lao động phổ thông, lao động chân tay (có nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc,… - Lao động trí óc (hoặc lao động văn phòng): Nhân viên (công chức, bán bộ, chuyên gia,… Ngày 20/11/2019, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực kể từ 01/01/2021. Tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2019 quy định NLĐ như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thoả thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”. Bên cạnh đó, tại Bộ luật mới này có nhiều quy định mới so với quy định cũ tại BLLĐ 2012, đơn cử như: Loại hợp đồng lao động, độ tuổi nghỉ hưu, nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9,…Do đó, theo tác giả, NLĐ là người có độ tuổi theo luật quy định, làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng LĐ.2 Động cơ Theo Nguyễn Thị Hồng trong giáo trình Tạo động lực lao động, “Động 14 cơ là lý do khiến ai đó hành động gì đó.
Động cơ biểu thị thái độ chủ quan của con người đối với hành động của mình. Một người sẽ không hành động nếu không có động cơ. Động cơ có thể hiểu là thứ khiến cho người ta suy nghĩ và hành động. Mọi việc làm đều xuất phát từ ít nhất một động cơ nào đó”.
[1] Thuật ngữ động cơ cá nhân được sử dụng để ám chỉ việc con người vì lợi ích cá nhân mà hoạt động hay làm việc. Trong tâm lý học tội phạm, động cơ gây án được hiểu là lý do khiến cho con người có thể thực hiện hành vi phạm tội. Tuy vậy, không phải mọi bị cáo có lý do gây án đều thực hiện hành vi gây án. Mỗi con người khi suy nghĩ và hành động luôn bị chi phối bởi nhiều lý do khác nhau.
Mỗi lý do tạo ra một động cơ có hướng tác động khác nhau đến con người. Cơn nghiện có thể khiến cho con nghiện có lý do thực hiện hành vi tìm chất nghiện. Nhưng mong muốn được cai nghiện có thể khiến anh ta thực hiện hành vi cưỡng chế cơn nghiện hoặc cố gắng thực hiện hành vi khác nhằm quên cơn nghiện. Tại một thời điểm, trong một hoàn cảnh nhất định, con người luôn bị giằng xé bởi nhiều động cơ khác nhau.
Tổng hợp các động cơ có hướng tác động cùng chiều và có lực đủ lớn (lớn vượt trội) sẽ hình thành động lực khiến con người quyết định hành động và chọn hướng hành động. Lực tác động mạnh sẽ khiến con người hành động với cường độ nhanh hơn. Có hai loại động cơ lao động đó là: Động cơ lao động bên trong: là ý nguyện của NLĐ được thể hiện thông qua mục tiêu mà NLĐ đã xác định và nó trở thành động lực nội tại thúc đẩy con người hoạt động. Động cơ bên trong phụ thuộc vào giá trị cá nhân, nền văn hoá cộng đồng và nhận thức của người lao động về các vấn đề xã hội.
Động cơ lao động bên ngoài: là điều kiện kích thích bên ngoài tạo nên cơ sở thúc đẩy động cơ bên trong phát triển. Động cơ bên ngoài của NLĐ phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức mà họ tham gia. Như vậy, có thể cho rằng sự hoạt 15 động của tổ chức có thể củng cố làm tăng cường động cơ làm việc đó của NLĐ. Hoạt động của tổ chức tác động tới động cơ của NLĐ trên các góc độ: sự nhận thức của người lao động về các chính sách của tổ chức, sự thực hiện các chức năng lãnh đạo và văn hoá tổ chức.3 Động lực “Động lực là sự thôi thúc con người cần hành động”.
Động lực được ví như “động cơ của một cỗ máy để cỗ máy hoạt động”. “Động cơ” tốt máy chạy nhanh, chạy đúng. Động lực mạnh khiến con người hành động nhanh, hành động chính xác. Động lực là lực thôi thúc con người trong quá trình hành động.
Khi tổng hợp các động cơ đã khiến con người lựa chọn một hành động nào đó theo một hướng nhất định, thì động lực sẽ duy trì và thúc đẩy hiệu suất của hoạt động ngay sau đó. Cái gốc của động lực là động cơ. Tuy nhiên, động lực là thứ lực cuối cùng theo một phương, một hướng dẫn dắt hành động của con người. Đề cập đến động cơ là đề cập đến lý do trong khi động lực liên quan nhiều đến mức độ thúc đẩy hành động.
Một hoạt động cần xuất phát từ ít nhất một lý do, nhưng hoạt động đó chỉ có thể được nuôi dưỡng, được duy trì bằng động lực để thực hiện chính nó. Lý do để bắt đầu một hành động nào đó có thể mất đi sau một khoảng thời gian thực hiện hành động nhưng những lý do khác, xuất hiện sau đó, có lực tác động cùng chiều sẽ tiếp tục nuôi dưỡng động lực để tiếp tục hành động ban đầu. Như vậy, ta cũng có thể hiểu động lực là lực tổng cộng từ nhiều động cơ khác nhau trong quá trình ra quyết định hành động, duy trì và tăng cường hành động. Động lực biểu hiện rõ hướng, cường độ và thời gian duy trì tác động.
[1] Động lực gắn liền với mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi công việc và mục tiêu làm việc cụ thể. Tuy rằng động lực không phải là nhân tố duy nhất quyết định tới năng suất lao động và hiệu quả công việc nhưng khi có động lực, người lao động sẽ làm việc hăng say hơn, sáng tạo hơn. Họ sẽ bộc lộ hết 16 tài năng của mình, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình để hoàn thành tốt nhất công việc bao giờ cũng cao hơn so với lúc không có động lực làm việc.4 Động lực làm việc Động lực làm việc hay gọi cách khác là động lực lao động là những yếu tố bên trong thúc đẩy con người nỗ lực làm việc trong điều kiện sức lực bản thân để tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Theo Wrighi (2003), động lực làm việc được đo lường bởi sự cố gắng hết sức để hoàn thành công việc dù gặp các khó khăn, sẵn sàng bắt đầu ngày làm việc sớm nhất hoặc ở lại muộn nhất để hoàn thành công việc, thường làm việc chăm chỉ hơn người khác có cùng công việc, làm quên thời gian.
Theo Nguyễn Thị Hồng, giáo trình Tạo động lực lao động “Động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động để tăng cường các hoạt động lao động hướng tới việc đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động thể hiện thông qua mức độ nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường hiệu suất làm việc của cá nhân, nhóm và tổ chức. Động lực lao động hay động lực làm việc được hình thành từ tác động của các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài bản thân người lao động. Nhưng tự nó, động lực lao động lại tồn tại bên trong người lao động.
NLĐ cảm thấy mình cần nỗ lực, muốn nỗ lực, nỗ lực tự nguyện. Động lực lao động xuất hiện kể từ khi người lao động có lý do để làm việc, để lao động. Nó khởi nguồn bởi một động cơ này, nhưng có thể được duy trì và nuôi dưỡng bằng nhiều động cơ khác. Động lực lao động bắt đầu hành vi tích cực liên quan đến công việc, nó thúc đẩy quá trình nỗ lực làm việc.
Động lực lao động có phương, hướng và cường độ rõ ràng. Người lao động sẽ làm việc một cách nhẹ nhàng hơn khi có động lực lao động cao”. [1] Con người làm việc đều mong muốn được khẳng định bản thân, được thành đạt, cũng như muốn có thu nhập cao. Khi con người ở những vị trí khác 17 nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau.
Nhà quản trị cần có những tác động khác nhau đến mỗi người lao động. Động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động một các tích cực, đạt hiệu quả cao và ngược lại. Theo Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, giáo trình Quản trị nhân lực “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. [4] Theo Bùi Anh Tuấn - Phạm Thuý Hương “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
[2] Theo Lê Thanh Hà, Giáo trình Quản trị nhân lực – NXB Lao động – Xã hội (2009): “Động lực lao động được biểu hiện là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. [3] Như vậy, các định nghĩa của các tác giả nghiên cứu về động lực lao động thì khái niệm động lực lao động bao gồm những khía cạnh sau: (1) động lực lao động là sự tự nguyện, khát khao làm việc; (2) Động lực lao động là một quá trình tâm lý; (3) Động lực là sự cố gắng để đạt mục tiêu; (4) Động lực lao động là việc tự nguyện, khát khao làm công việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân. (5) Động lực lao động tăng cường tính chủ động, say mê lao động, chủ động cố gắng trong công việc và từ đó có thể phát huy hết năng lực hiện hữu và tiềm năng trong họ. Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể hiểu “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt được mục tiêu của bản thân và mục tiêu của doanh nghiệp”.
Nói cách khác, một người có động lực lao động sẽ nhận thức được là có một mục tiêu cụ thể phải đạt được và sẽ chỉ đạo nỗ lực của 18 mình để đạt được mục tiêu đó bởi động lực vốn dĩ đã tồn tại trong mỗi con người.