CHƯƠNG 1. Giới thiệu về các chất độc quân sự 1. Sơ lược về chất độc quân sự Việc sử dụng chất độc trong các cuộc chiến tranh đã có từ rất lâu. Bắt đầu với các hợp chất có sẵn trong động thực vật và gây nhiễm độc bằng cách tẩm các hợp chất này lên các vũ khí thô sơ như mũi tên hoặc các mũi lao.
Sau đó, nhận thấy các chất tạo thành dạng hơi và khói có tác dụng gây khó chịu cho người, làm ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu của đối phương mạnh hơn [2], [73], [82], [99]. Sau này, theo sự ra đời của các loại chất độc hóa học mà chúng được chia ra là các thế hệ khác nhau. Chất độc hóa học thế hệ thứ nhất là các loại chất độc ngạt thở (photgen, diphotgen, cloropicrin), chất độc toàn thân (hydro xyanua, clo xyan) và các loại chất độc loét da được nghiên cứu phát triển và sử dụng từ chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến những năm 1930. Từ những năm 1935-1937, các nhà hóa học Đức đã tổng hợp các chất độc thần kinh đầu tiên là Tabun và Sarin khi nghiên cứu và phát triển thuốc trừ sâu.
Hai chất độc thần kinh đó đã trở thành cơ sở của vũ khí hóa học thuộc thế hệ thứ hai. Những năm 1960 các chất độc thần kinh nhóm G (sarin, soman) và các chất độc thần kinh nhóm V loại có độc tính cao hơn đã được sản xuất hàng loạt. Bên cạnh đó, các nước cũng đã nghiên cứu và phát triển các loại chất độc làm mất sức chiến đấu là các loại chất độc tâm thần BZ và chất độc kích thích CS. Trong khoảng năm 1970, Mỹ đã phát triển vũ khí hóa học thế hệ thứ ba, là các loại vũ khí hóa học được lưu trữ dưới dạng hai thành phần dựa trên các loại chất độc thần kinh (như GB, VX,…).
Để đối phó với Mỹ, năm 1971 Liên Xô trước đây cũng đã triển khai một chương trình phát triển vũ khí hóa học mới và kết quả của chương trình là chất độc Novichok. Đó là vũ khí hóa học hai thành phần để an toàn trong lưu trữ và có độ độc cao [73], [82], [105]. luan an 6 Ngày nay, mặc dù CWC đã được nhiều nước tham gia nhưng trên thực tế, trong các cuộc xung đột, một số nước vẫn sự dụng vũ khí hóa học như: Cuộc tấn công bằng photpho trắng của Isaren vào Libăng năm 2006, sử dụng chất độc hóa học tại Syria năm 2017 và 2018, sử dụng chất độc mới để đầu độc điệp viên người Nga năm 2018 theo cáo buộc của Anh,… Các nước sở hữu vũ khí hóa học chỉ phá hủy một phần các chất độc quân sự trong biên chế và tiếp tục nghiên cứu các chất độc quân sự mới nhằm tránh sự kiểm soát của CWC. Cùng với đó là tăng cường hoàn thiện các chất độc quân sự trong biên chế nhằm đem lại hiệu quả sử dụng cao hơn [105].
Định nghĩa về chất độc quân sự Chất độc quân sự là những chất độc hoá học có độc tính cao được dùng trong mục đích quân sự, để gây sát thương sinh lực hoặc làm nhiễm độc môi trường, trang bị và vật chất của đối phương, là cơ sở của vũ khí hóa học [2]. Chất độc hóa học là bất kỳ hóa chất thông qua hoạt động hóa học của nó khi đi vào cơ thể sống có thể gây tử vong, mất sức tạm thời hoặc gây tổn hại vĩnh viễn cho người và động vật. Nó bao gồm tất cả các hóa chất, bất kể nguồn gốc hoặc các phương pháp sản xuất của nó, cho dù chúng được sản xuất tại các cơ sở, bố trí trong các loại vũ khí hoặc ở những nơi khác [82]. Theo CWC vũ khí hóa học có thể có một hoặc tất cả các đặc điểm sau: a) Các hóa chất độc hại và tiền chất của nó, trừ trường hợp dành cho các mục đích không bị cấm theo Công ước này, miễn là các loại và số lượng phù hợp với mục đích sử dụng; b) Bom đạn và các thiết bị, được thiết kế đặc biệt để gây tử vong hoặc tổn hại khác thông qua các thuộc tính độc hại của các hóa chất độc hại theo quy định tại điểm (a), được tạo ra như là một kết quả của việc sử dụng các bom đạn và các thiết bị đó; luan an 7 c) Phương tiện được thiết kế đặc biệt để trực tiếp sử dụng đảm bảo hoạt động của các loại đạn dược và các thiết bị quy định tại điểm (b).
Phân loại chất độc quân sự Tuỳ theo quan điểm và mục đích sử dụng mà chất độc quân sự được phân loại theo các cách khác nhau, một số cách phân loại thông dụng như sau [2], [41], [99]: Phân loại theo bệnh lý: Căn cứ vào đặc điểm tác hại và triệu chứng trúng độc đối với người, các chất độc quân sự được chia thành 6 nhóm bao gồm: Chất độc thần kinh; Chất độc loét da; Chất độc toàn thân; Chất độc ngạt thở; Chất độc tâm thần; Chất độc kích thích [2]. Phân loại theo ý nghĩa chiến thuật: Căn cứ vào thời gian tồn tại và gây tác hại của chất độc quân sự trong môi trường nhiễm, các chất độc quân sự được chia thành 2 loại [2], [3], [83], [100]: - Chất độc bền: Có thể tồn tại trong tự nhiên với thời gian lớn hơn 01 giờ tính từ thời điểm phát tán, thường có nhiệt độ sôi lớn hơn 140 oC. Các loại chất độc thuộc loại này bao gồm: Chất độc thần kinh, chất độc loét da, chất độc kích thích. - Chất độc không bền: Có thể tồn tại trong tự nhiên với thời gian nhỏ hơn 01 giờ tính từ thời điểm phát tán, thường có nhiệt độ sôi dưới 140 oC.
Các loại chất độc thuộc loại này bao gồm: Chất độc toàn thân, chất độc ngạt thở, chất độc tâm thần. Phân loại theo độ độc: Căn cứ vào độc tính (độ độc) các chất độc quân sự được chia thành 2 loại [2]: - Chất độc gây chết người: Là các chất độc làm người nhiễm độc chết sau một thời gian nào đó. Các chất độc thuộc loại này bao gồm: Chất độc thần kinh, chất độc toàn thân, chất độc ngạt thở. luan an 8 - Chất độc gây mất sức chiến đấu: Là các chất độc làm người nhiễm mất khả năng hành động và tư duy trong một thời gian nhất định.
Các chất độc thuộc loại này bao gồm: Chất độc loét da, chất độc tâm thần, chất độc kích thích. Ngoài các cách phân loại trên, còn có các cách phân loại khác. Tuy nhiên, cách phân loại theo bệnh lý là thông dụng và phổ biến hơn cả, đó cũng là cách phân loại hiện đang được sử dụng trong quân đội hiện nay [2]. Các nhóm chất độc quân sự cần phải tiêu độc Tiêu độc bao gồm hai loại: Tiêu độc cho người và tiêu độc cho địa hình, vũ khí trang bị, công sự, trận địa bị nhiễm độc.
Tiêu độc cho người là tiêu độc cho chất độc bám dính trên quần áo người đang mặc; da người; niêm mạc mắt, mồm, mũi;. Tiêu độc cho địa hình, vũ khí trang bị, công sự, trận địa là tiêu độc cho chất độc bám dính trên bề mặt hoặc thẩm thấu vào vật liệu [101]. Tất cả các chất độc đều cần tiêu độc nhưng với nhóm chất độc quân sự không bền thì tiêu độc cho địa hình, vũ khí trang bị, công sự, trận địa bị nhiễm độc không có ý nghĩa bởi thời gian tồn tại của chúng ngoài thực tế ngắn [30], [79]. Nhóm chất độc quân sự bền cần được tiêu độc khi địa hình, vũ khí trang bị, công sự, trận địa bị nhiễm độc [47], [48], [86].
Mỗi nhóm chất độc gồm nhiều chất độc khác nhau, một số chất có cấu tạo, tính chất, tác dụng tương tự nhau, nên nghiên cứu toàn bộ các chất độc bền là không khả thi và không cần thiết. Do đó, trong luận án chỉ tập trung nghiên cứu những chất độc bền điển hình trong mỗi nhóm. Việc lựa chọn các chất độc quân sự bền điển hình để nghiên cứu phải thỏa mãn các yêu cầu sau: - Có tính đặc trưng cho một nhóm hoặc một số loại chất độc khác nhau. - Đang được sử dụng trong nghiên cứu, huấn luyện tại Việt Nam.
- Phải có ý nghĩa về mặt khoa học, thực tiễn và môi trường. Do đó, dự kiến nghiên cứu quá trình chuyển hóa trong dung dịch dẫn xuất chloro- isocyanurate của các chất độc quân sự là CS, HD, GB vì: luan an 9 - Chất độc CS bền, khó bị phân hủy, lượng tồn lưu từ chiến tranh chống Mỹ lớn, phải tiêu tẩy để không tác động đến con người và môi trường [14]. Mẫu CS hiện có tại Viện Hóa học Môi trường quân sự/BTL Hóa học. - Chất độc HD là hợp chất cơ lưu huỳnh, đại diện cho nhóm chất độc loét da, được sử dụng rộng rãi trong quân sự và được coi là loại chất độc quân sự chính vì độ độc khá cao, lượng dự trữ trong quân đội các nước lớn [2].
Mẫu HD hiện có tại Viện Hóa học Môi trường quân sự/BTL Hóa học. - Chất độc GB đại diện cho nhóm chất độc thần kinh, có độ độc cao, thuộc nhóm hợp chất cơ photpho được sử dụng trong quân đội và trong dân sự với mục đích trừ sâu [2]. Mẫu GB hiện có tại Viện Hóa học Môi trường quân sự/BTL Hóa học. Như vậy, việc sử dụng CS, HD, GB để nghiên cứu trong luận án là hoàn toàn khả thi, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Tuy nhiên, các thí nghiệm với CS, HD, GB đều rất nguy hiểm và đòi hỏi khả năng thành thạo cao. Do đó, các thí nghiệm chủ yếu được tiến hành tại các phòng thí nghiệm của Viện Hóa học Môi trường quân sự/BTL Hóa học, đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm làm việc với các loại chất độc và chất tiêu độc. Đặc điểm của các chất độc quân sự là đối tượng nghiên cứu của luận án 1. Chất độc kích thích- 2-clobenzyliden malononitril (CS) Chất độc kích thích gây tác động lên đầu dây thần kinh thụ cảm của niêm mạc mắt và đường hô hấp, gây triệu chứng hắt hơi, chảy nước mắt, nước mũi, ho.
làm mất sức chiến đấu tạm thời hoặc có thể chết người [2]. Theo số liệu của BTL Hóa học, từ năm 1961 đến năm 1971, Mỹ đã sử dụng hơn 9.000 tấn chất độc kích thích để phun rải trên chiến trường. Hiện nay, còn rất nhiều nơi trên địa bàn miền Trung và miền Nam phát hiện chất độc kích thích tồn lưu [14]. Trong các loại chất độc kích thích, CS được sử dụng nhiều nhất trong luan an 10 chiến tranh và trong các lực lượng chống khủng bố.
Một số thông tin về CS được thể hiện trong bảng 1.