Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc (mã số 9140234.01) của tác giả Phạm Thúy Hồng, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang tại Khoa Sau đại học, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2018), tập trung nghiên cứu đối chiếu nhóm từ ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Hán và tiếng Việt.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ ngữ tâm lý tình cảm là một tiểu loại đặc thù trong hệ thống từ vựng, phản ánh trực tiếp hoạt động tâm lý và sự biến chuyển cảm xúc của con người. Trong giao tiếp xã hội, nhu cầu biểu đạt và trao đổi tâm lý giữa các cá nhân giữ vai trò duy trì hệ thống xã hội, và ngôn ngữ chính là công cụ ghi nhận các thông tin tư duy, tình cảm đó.

Mặc dù các phạm trù cảm xúc xuất hiện trong mọi nền văn hóa, nhưng nội hàm và ngoại diên của các từ ngữ biểu thị chúng trong từng hệ thống ngôn ngữ lại không hoàn toàn đồng nhất. Trong hơn hai mươi năm qua, các nhà ngôn ngữ học và tâm lý học đã tiếp cận lớp từ này từ nhiều góc độ khác nhau (ngữ pháp, ngữ nghĩa, nhận thức). Tại Trung Quốc và Việt Nam, giới nghiên cứu đã tiến hành nhiều công trình đối chiếu giữa tiếng Hán và tiếng Việt ở các cấp độ cú pháp, hướng ngữ nghĩa, tri nhận, ngữ giá. Tuy nhiên, các công trình chuyên sâu nghiên cứu đối chiếu hệ thống từ ngữ tâm lý tình cảm giữa hai ngôn ngữ vẫn còn là một khoảng trống, đặc biệt là việc đối chiếu toàn diện trên cả bình diện cấu trúc và mạng ngữ nghĩa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 05 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
  2. Đóng góp dữ liệu và luận cứ cho các lý thuyết ngôn ngữ học như ngữ nghĩa học, trường nghĩa từ vựng và chức năng ngữ pháp.
  3. Cung cấp cơ sở mô tả cho ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc xây dựng mạng ngữ nghĩa của các từ ngữ tâm lý tình cảm (mô phỏng mạng lưới liên kết của não bộ để hỗ trợ máy tính xử lý thông tin).
  4. Miêu tả mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ và con người, làm rõ cách thức cảm xúc con người được thể hiện trong hệ thống ngôn ngữ.
  5. Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu tiếng Hán cũng như tiếng Việt.

Để đạt được các mục tiêu trên, luận án triển khai 04 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác lập cơ sở lý thuyết toàn diện về trường ngữ nghĩa, phương pháp phân tích nghĩa tố và ngôn ngữ học đối chiếu.
  2. Miêu tả, phân tích cấu trúc nội tại và khả năng kết hợp cú pháp của từ ngữ tâm lý tình cảm trong hai ngôn ngữ, từ đó chỉ ra các điểm đồng dị.
  3. Xác định toàn bộ các đơn vị từ vựng thuộc 04 trường ngữ nghĩa tâm lý tình cảm (Hỷ, Ái, Ai, Ố), xác định các đặc trưng ngữ nghĩa và thiết lập các mạng ngữ nghĩa tương ứng.
  4. Đối chiếu, phân tích so sánh cấu trúc, khả năng kết hợp và quan hệ ngữ nghĩa của từ ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Hán và tiếng Việt, đồng thời giải thích nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhóm từ ngữ biểu thị 04 trạng thái cảm xúc cơ bản gồm: Hỷ (喜 - vui mừng), Ái (爱 - yêu thương/ưa thích), Ai (哀 - buồn đau/bi thương) và Ố (恶 - căm ghét/chán ghét) trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại. Luận án khảo sát cả vị từ (động từ) và tính từ biểu thị tâm lý tình cảm, cùng một số đơn vị từ vựng có cấu trúc cố định hoạt động tương đương như từ trong câu.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát trên 02 bình diện chính là cấu trúc (phương thức cấu tạo từ, khả năng kết hợp cú pháp) và ngữ nghĩa (nghĩa tố, quan hệ ngữ nghĩa, mạng ngữ nghĩa). Nghiên cứu tiếp cận chủ yếu dưới góc độ đồng đại, có kết hợp đối chiếu lịch đại khi cần giải thích sự diễn biến ngữ nghĩa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu từ ngữ tâm lý theo 04 hướng tiếp cận chính:

1. Hướng nghiên cứu về định nghĩa và phạm vi của từ ngữ tâm lý

  • Trong tiếng Hán: Khởi đầu từ Mã thị văn thông của Mã Kiến Trung (1898) với nhận định về các "động tự" biểu thị cảm xúc nội tâm; Lê Cẩm Hy (1992); Lữ Thúc Tương (1956) liệt kê các động từ tâm lý như tưởng, ức, ái, hận, oán, hối, cảm kích, hại sợ...; Hoàng Bá Vinh (1988) phân động từ thành 6 nhóm trong đó có động từ tâm lý; Lưu Nguyệt Hoa (1983a) xếp vào nhóm động từ trạng thái; Lý Lâm Định (1990); Hồ Dụ Thụ và Phạm Hiểu (1995) đưa ra định nghĩa bao quát gồm tình cảm, ý hướng, nhận thức, cảm giác, tư duy; Viên Minh Quân (2000) tách biệt động từ tâm lý (hành vi nội tâm) với động từ tư duy (hoạt động não bộ); Trần Xương Lai (2002b) phân định phạm vi "biểu tình" và "biểu tri"; Văn Nhã Lệ (2007) thống kê 341 từ tâm lý tình cảm trong Hiện đại Hán ngữ Từ điển và phân thành 3 loại (hoạt động, trạng thái, sứ dịch).
  • Trong tiếng Việt: Nhóm tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (1983) xếp vào "động từ biểu thị cảm tưởng"; Đinh Văn Đức (1986) xem các từ như vui, buồn, yêu, thương, khinh, trọng là tính từ mang màu sắc động; Nguyễn Ngọc Trâm (1998) thống kê từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1988) có 3.600–3.800 mục từ tâm lý (chiếm 9–10% vốn từ), trong đó có 300 vị từ tâm lý tình cảm, đồng thời khảo sát tần số xuất hiện của các từ này trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (như thương xuất hiện 44 lần, nhớ 33 lần, sợ 11 lần, buồn 10 lần...).

2. Hướng nghiên cứu trên bình diện ngữ nghĩa

  • Các nghiên cứu ngữ nghĩa lịch đại trong tác phẩm văn học: Trần Bình (2002) nghiên cứu sự biến đổi ngữ nghĩa động từ tâm lý trong Thế thuyết tân ngữ và Nam Tề thư; Miêu Thủ Diễm (2005) nghiên cứu trong Liệt tử.
  • Nghiên cứu nghĩa tố và mạng ngữ nghĩa: Chu Phương Nghị nghiên cứu mạng ngữ nghĩa trong Thuyết văn giải tự; Phong Cánh (2003) phân tích ngữ nghĩa động từ tâm lý hiện đại; Triệu Gia Tân (2010) phân tích mạng ngữ nghĩa tính từ tâm lý. Các nghiên cứu chỉ ra 3 đặc trưng ngữ nghĩa chung: [+miêu tả người hoặc nhân hóa], [+trạng thái đại não], [+biểu thị hoạt động hoặc trạng thái tâm lý].
  • Nghiên cứu màu sắc ngữ nghĩa và cơ thể học: Nguyễn Ngọc Trâm phân chia trạng thái dương tính, âm tính và trạng thái "zero" (cân bằng), phân lập 19 tiểu nhóm vị từ tâm lý; Nguyễn Đức Tồn (2002) nghiên cứu hàm nghĩa tâm lý tình cảm của các từ chỉ bộ phận cơ thể người (bụng, lòng, dạ).

3. Hướng nghiên cứu trên bình diện ngữ pháp và cú pháp

  • Các học giả như Trần Quang Lỗi (1980), Dương Hoa (1994), Vương Hồng Bân (1998), Giang Thắng Lợi (2004), Trương Hồng Thiến và Lưu Phỉ (2011) tập trung phân tích khả năng kết hợp của từ tâm lý với phó từ mức độ, tân ngữ (thể từ, vị từ, chủ vị), bổ ngữ kết cấu, trợ từ thời thái và từ chỉ thời lượng.
  • Về khung kiểm diện cú pháp: Phạm Hiểu (1995) đưa ra khung "S + rất + V + O"; Phong Cánh (2003) đề xuất khung "Chủ ngữ (người) + ở trong lòng + (rất) + V tâm lý + Tân ngữ".
  • Trong tiếng Việt: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Nguyễn Kim Thản (1977), Hoàng Tuệ (1962), Đinh Văn Đức (1977) xác lập khả năng kết hợp của vị từ tâm lý với phó từ mức độ (rất, hơi), phân biệt với động từ hành động qua khả năng không kết hợp với từ chỉ sự hoàn thành xong.

4. Hướng nghiên cứu trên bình diện nhận thức

  • Vận dụng lý thuyết của George Lakoff và Zoltán Kövecses, các tác giả Lâm Thư Vũ (1998), Bành Ý (2007), Trần Bá Tiến (2009), Ly Lan (2010), Vi Trường Phúc (2013) nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về cảm xúc (như phẫn nộ, vui mừng) qua ngữ liệu thành ngữ đối chiếu Hán – Anh, Việt – Anh và Hán – Việt.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây đa phần chỉ khảo sát đơn ngữ hoặc đối chiếu tiếng Hán/tiếng Việt với tiếng Anh, phạm vi khảo sát thường chỉ tập trung vào một số từ ngữ hoặc thành ngữ nhất định. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tiến hành một công trình đối chiếu ngôn ngữ học mang tính hệ thống, kết hợp đồng thời cấu trúc ngữ pháp (cấu tạo từ, kết hợp cú pháp) với cấu trúc ngữ nghĩa (phân tích nghĩa tố, thiết lập mạng ngữ nghĩa) trên toàn bộ hệ thống từ ngữ thuộc 04 trường nghĩa tình cảm cơ bản của tiếng Hán và tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết về nghĩa của từ: Vận dụng quan điểm tam giác ngữ nghĩa của C. Ogden và I. Richards (1923), lý thuyết ký hiệu của Charles Morris, quan điểm của P. Smirnovski, S. Ullmann và Phù Hoài Thanh (1996) về cấu trúc nghĩa của từ gồm nghĩa khái niệm (nghĩa sở biểu) và nghĩa ngữ dụng/nghĩa biểu cảm (nghĩa phụ sở thuộc).
  2. Phương pháp phân tích nghĩa tố (Componential Analysis): Dựa trên lý thuyết của L. Hjelmslev, F. Lounsbury, W. Goodenough, J. Katz và J. Fodor. Luận án xây dựng mô hình nghĩa trưng cho từ ngữ tâm lý gồm 4 thành tố: $$\text{Nghĩa trưng} = [\pm \text{Hướng nghĩa}] [\pm \text{Nghĩa nguyên}] [\pm \text{Lượng trưng nguyên thủy}] [\pm \text{Ngữ sắc}]$$
  3. Lý thuyết trường ngữ nghĩa (Semantic Field): Tiếp thu lý thuyết của J. Trier, G. Leech, Palmer, Giả Diễm Đức, phân định tổng trường ngữ nghĩa tâm lý tình cảm thành 2 tiểu trường hướng nghĩa (tích cực/dương tính và tiêu cực/âm tính), sau đó chia tiếp thành 4 tiểu trường cận nghĩa (Hỷ, Ái, Ai, Ố) và các tiểu trường cận nghĩa cấp dưới. Xác lập nguyên tắc chọn từ hạt nhân (từ trung tâm) dựa trên tiêu chí của Trương Chí Nghị (1980) và Nguyễn Đức Tồn (2002).
  4. Lý thuyết mạng ngữ nghĩa (Semantic Network): Ứng dụng mô hình mạng của R. Quillian (1968), R. Simon và J. Slocum (1972) nhằm biểu diễn các từ ngữ dưới dạng các "nút" (node) và mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng dưới dạng các "đường liên kết" (link).
  5. Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Thực hiện miêu tả tĩnh và đối chiếu đồng đại giữa hai ngôn ngữ nhằm tìm ra quy luật tương đồng và khác biệt.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân xuất nghĩa tố, phân loại 4 trường khái niệm, phân tích cơ chế chuyển nghĩa.
  • Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ: So sánh định tính và định lượng các tham số cấu trúc, khả năng kết hợp và mạng ngữ nghĩa xuyên suốt Chương 2 và Chương 3.
  • Phương pháp thống kê và phân tích định lượng: Khảo sát ngữ liệu từ điển và kho ngữ liệu mẫu câu để tính toán số lượng đơn vị từ vựng, tần suất cấu tạo từ và tỷ lệ các mối quan hệ ngữ nghĩa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Từ điển tiếng Hán: Hiện đại Hán ngữ Từ điển (现代汉语词典, Bản sửa chữa thứ 5, Nhà xuất bản Thương vụ Ấn thư quán, 1999) – đạt giải thưởng nghiên cứu khoa học Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (1993) và Giải thưởng Sách Quốc gia Trung Quốc (1994). Bổ trợ bởi Cận nghĩa từ ứng dụng từ điển (Trần Bỉnh Chiêu, 2003), Ứng dụng Hán ngữ từ điển (2000), Tượng hình tự điển.
  • Từ điển tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Xã hội / NXB Đà Nẵng, 1989/1998) – công trình đạt Giải thưởng Nhà nước. Bổ trợ bởi các từ điển đối chiếu Trung - Việt, Việt - Hán.
  • Kho ngữ liệu câu ví dụ: Kho ngữ liệu Trung tâm Ngôn ngữ học Tính toán Đại học Bắc Kinh (PKU-CCL Corpus) và Kho ngữ liệu tiếng Việt.
  • Kết quả thu thập ngữ liệu: Luận án trích xuất được 253 từ tiếng Hán và 236 từ tiếng Việt thuộc 04 nhóm cảm xúc Hỷ, Ái, Ai, Ố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, tiếng Việt và cơ sở lý thuyết của luận án

Chương 1 tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu từ ngữ tâm lý tại Trung Quốc và Việt Nam, chỉ rõ các tiêu chí phân định từ loại và cấu trúc nghĩa của nhóm từ này. Tác giả tổng hợp 20 tiểu loại cảm xúc trong ngôn ngữ học và tâm lý học, từ đó luận giải tính khoa học của việc lựa chọn 4 phạm trù cảm xúc đối lập cốt lõi: Hỷ duyệt (vui vẻ), Hỉ ái (yêu thích), Bi ai (buồn rầu/đau khổ) và Tăng ố (chán ghét/căm thù).

STT Tiểu loại cảm xúc Đặc trưng ngữ nghĩa Ví dụ tiếng Hán Ví dụ tiếng Việt
1 Hỷ duyệt (Vui mừng) [+Tích cực][+Khoái lạc] 暗喜, 开心, 高兴 vui, phấn khởi
2 Bi ai (Buồn đau) [-Tích cực][+U sầu] 发愁, 忧虑, 寒心 buồn, khổ, đau lòng
3 Hỉ ái (Yêu thích) [+Tích cực][+Thích] 爱, 爱戴, 宠爱 thích, sính, chuộng
4 Tăng ố (Ghét bỏ) [-Tích cực][+Chán ghét] 讨厌, 嫌弃, 记仇 chán, ghét, ngán
5 Kinh cự (Sợ hãi) [-Tích cực][+Sợ hãi] 害怕, 唯恐, 惊恐 hãi, kinh, khiếp
6 Phẫn nộ (Tức giận) [-Tích cực][+Tức giận] 发怒, 暴怒, 生气 tức, bực, ghen, uất
7 Hoài niệm (Nhớ nhung) [+Tích cực][+Tưởng niệm] 挂念, 想念, 想 nhớ, hoài niệm
8 Quan tâm (Chăm sóc) [+Tích cực][+Quan tâm] 关心, 关爱, 关照 quan tâm
9 Tự hào (Hãnh diện) [+Tích cực][+Tự mãn] 自豪, 骄傲, 自大 kiêu hãnh, tự hào
10 Xấu hổ (Hổ thẹn) [-Tích cực][+Xấu hổ] 内疚, 害羞, 惭愧 xấu hổ, ngượng
11 Mãn ý (Hài lòng) [+Tích cực][+Thỏa mãn] 满意, 满足, 舒适 toại nguyện, thỏa lòng
12 Hy vọng (Trông mong) [+Tích cực][+Hi vọng] 希望, 渴望 mong, mơ, ước
13 Thất vọng (Tuyệt vọng) [-Tích cực][+Thất vọng] 失望, 绝望 thất vọng, tuyệt vọng
14 Tương tín (Tin tưởng) [+Tích cực][+Tin tưởng] 相信, 深信 tin tưởng
15 Hoài nghi (Nghi ngờ) [-Tích cực][+Nghi ngờ] 疑惑, 怀疑 nghi ngờ, hoài nghi
16 Tôn trọng (Kính nể) [+Tích cực][+Coi trọng] 尊重, 重视, 拜服 kính, phục, nể
17 Khinh thị (Coi thường) [-Tích cực][+Xem thường] 轻视, 蔑视, 小看 khinh, coi thường
18 Kinh ngạc (Ngạc nhiên) [+Trung tính][+Kinh ngạc] 吃惊, 惊讶, 发呆 ngạc nhiên
19 Di hám (Tiếc nuối) [-Tích cực][+Mất mát] 遗憾, 后悔, 可惜 luyến tiếc, hối hận
20 Khác (Lãnh đạm...) [+Trung tính] 冷淡, 放心 dửng dưng, thờ ơ

Chương 2: Đối chiếu cấu trúc của từ ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 2 phân tích chuyên sâu hai nội dung: phương thức cấu tạo từ và khả năng kết hợp cú pháp.

1. Phương thức cấu tạo từ

  • Tiếng Hán có 8 phương thức cấu tạo: Từ đơn đơn âm tiết, từ liên miên (từ láy cổ), từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ, từ ghép chủ vị, từ ghép động tân (thuật tân), từ ghép phụ gia và từ trùng điệp.
  • Tiếng Việt có 7 phương thức cấu tạo: Từ đơn đơn âm tiết, từ liên miên (từ láy), từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ, từ ghép động tân, từ ghép phụ gia và từ trùng điệp (không có cấu trúc từ ghép chủ vị).
Cấu trúc / Phương thức cấu tạo Tiếng Hán Tiếng Việt So sánh định lượng & Đặc điểm
Từ đơn đơn âm tiết Có Có Tiếng Việt nhiều hơn tiếng Hán
Từ liên miên / Từ láy Có Có Tiếng Việt phong phú hơn rõ rệt
Từ ghép đẳng lập Có Có Cả hai thứ tiếng đều chiếm số lượng nhiều nhất
Từ ghép chính phụ Có Có Tiếng Hán nhiều hơn tiếng Việt
Từ ghép chủ vị Có Không Tiếng Việt không có mô hình cấu tạo từ này
Từ ghép động tân (thuật tân) Có Có Cả hai thứ tiếng đều có số lượng khá lớn
Từ ghép phụ gia Có Có Tiếng Hán nhiều hơn tiếng Việt
Từ ghép bổ sung Hạn chế Có Tiếng Việt vượt trội hơn tiếng Hán
Từ trùng điệp Có Có Tiếng Việt chiếm số lượng nhiều hơn
  • Đặc trưng tri nhận trong chất liệu cấu tạo từ:
    • Tiếng Hán: Sử dụng phổ biến hình tượng "Tâm" (心 - tim/lòng), phản ánh qua số lượng lớn từ ngữ mang ngữ tố "Tâm" hoặc các chữ Hán chứa bộ thủ Tâm (心, 忄).
    • Tiếng Việt: Thường không sử dụng yếu tố giải phẫu "tim" mà sử dụng "lòng" hoặc "dạ" (ruột/bụng) làm cội nguồn nảy sinh tâm lý tình cảm (ví dụ: vui lòng, đau lòng, hả lòng hả dạ, phải lòng, đắng lòng, phiền lòng).

2. Khả năng kết hợp cú pháp

  • Kết hợp với phó từ phủ định: Khi biểu thị cảm xúc đã xảy ra trong quá khứ (trạng thái dĩ nhiên), tiếng Hán có thể sử dụng độc lập phó từ "没" (méi) đứng trước vị từ tâm lý; trong khi tiếng Việt thông thường sử dụng "không", còn phó từ "chưa" không thể dùng độc lập theo cấu trúc tương đương.
  • Kết hợp với tân ngữ chỉ nguyên nhân: Trong tiếng Hán, tân ngữ chỉ nguyên nhân có thể đứng trực tiếp ngay sau từ tâm lý tình cảm. Trong tiếng Việt, giữa vị từ tâm lý và thành phần nguyên nhân bắt buộc phải có liên từ chỉ nguyên nhân (như "vì"), biến cấu trúc này thành một kết cấu câu phức.
  • Kết hợp với bổ ngữ mức độ/trạng thái: Tiếng Việt cho phép từ tâm lý tình cảm kết hợp trực tiếp với bổ ngữ mức độ (ví dụ: vui quá, ghét lắm). Ngược lại, tiếng Hán bắt buộc phải sử dụng trợ từ kết cấu "得" (de) để nối vị từ tâm lý với bổ ngữ mức độ hoặc bổ ngữ trạng thái (ví dụ: 痛恨得不得了).

Chương 3: Đối chiếu mạng ngữ nghĩa của từ ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 3 xây dựng các sơ đồ mạng ngữ nghĩa cho 4 trường nghĩa cảm xúc (Hỷ duyệt, Hỉ ái, Bi ai, Tăng ố) dựa trên 07 ký hiệu quan hệ ngữ nghĩa:

  • A (加义关系): Quan hệ gia nghĩa (nghĩa của từ do hai ngữ tố cộng gộp tạo thành).
  • X (修饰关系): Quan hệ tu sức (nghĩa của từ dựa trên một từ hạt nhân kết hợp với ngữ tố bổ sung/thuyết minh).
  • D (递进关系): Quan hệ tiệm tiến.
  • T (等义关系): Quan hệ đẳng nghĩa.
  • Y (语体关系): Quan hệ phong cách ngữ thể.
  • y (原因): Biểu thị quan hệ nguyên nhân ("bởi vì").
  • s (使役): Biểu thị ý nghĩa sai khiến/sứ dịch.

Phân tích quan hệ mạng ngữ nghĩa

  • Trong tiếng Hán: Quan hệ chi phối chủ yếu giữa các từ trong mạng ngữ nghĩa là Quan hệ gia nghĩa (A), xếp thứ hai là Quan hệ tu sức (X). Cơ chế phái sinh từ ngữ tâm lý tiếng Hán chủ yếu là sự kết hợp ý nghĩa của hai ngữ tố ngang hàng.
  • Trong tiếng Việt: Tình hình diễn ra hoàn toàn ngược lại, Quan hệ tu sức (X) là quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu, Quan hệ gia nghĩa (A) giữ vị trí thứ hai. Tiếng Việt chủ yếu sử dụng một từ hạt nhân (từ trung tâm) kết hợp thêm các yếu tố ngữ nghĩa thuyết minh/bổ sung để định hình nghĩa từ mới.
  • Về mật độ phân bố từ vựng: Tiếng Hán có số lượng mục từ (253 từ) lớn hơn tiếng Việt (236 từ), phản ánh mạng lưới phân chia ngữ nghĩa cảm xúc của tiếng Hán có mật độ dày hơn tiếng Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Vận dụng thành công và đồng bộ lý thuyết trường ngữ nghĩa, phương pháp phân tích nghĩa tố, lý thuyết mạng ngữ nghĩa và ngôn ngữ học đối chiếu vào việc xử lý một nhóm từ vựng cụ thể (nhóm từ tâm lý tình cảm) trên ngữ liệu Hán - Việt.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa giúp phân lập ranh giới giữa động từ và tính từ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  3. Thiết lập hệ thống sơ đồ mạng ngữ nghĩa trực quan hóa mối liên kết tầng bậc giữa các từ ngữ tâm lý tình cảm, chứng minh sự khác biệt về cơ chế phái sinh từ vựng giữa tiếng Hán (thiên về quan hệ gia nghĩa) và tiếng Việt (thiên về quan hệ tu sức).
  4. Cung cấp luận cứ ngôn ngữ học chứng minh sự chi phối của phương thức tư duy và tri nhận văn hóa đối với cấu trúc từ vựng (sự đối lập giữa mô hình biểu trưng "Tâm" trong tiếng Hán và "Lòng/Dạ" trong tiếng Việt).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp kho ngữ liệu đối chiếu: Xây dựng hệ thống 08 bảng phụ lục liệt kê và chú giải nghĩa tố chi tiết cho 253 từ tiếng Hán và 236 từ tiếng Việt biểu thị Hỷ, Ái, Ai, Ố.
  2. Ứng dụng trong giảng dạy và biên soạn từ điển: Hỗ trợ người học tiếng Hán (người Việt) và người học tiếng Việt (người Trung Quốc) nắm bắt chính xác các kết cấu kết hợp cú pháp khác biệt (như cách dùng trợ từ kết cấu "得", cách dùng liên từ nguyên nhân "vì", quy tắc kết hợp phó từ phủ định).
  3. Ứng dụng trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên: Cung cấp mô hình mạng ngữ nghĩa hình thức hóa hỗ trợ công tác dịch máy tự động và lập trình phân tích cảm xúc văn bản (Sentiment Analysis).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực nghiệm trên 04 nhóm từ ngữ tâm lý tình cảm cơ bản (Hỷ duyệt, Hỉ ái, Bi ai, Tăng ố) trong tổng số 20 nhóm cảm xúc đã được phân lập.
  • Ngữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào dạng thức đồng đại từ các từ điển quy chuẩn (Hiện đại Hán ngữ Từ điển và Từ điển tiếng Việt) và kho ngữ liệu mẫu câu chuẩn mực; chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu ngôn ngữ khẩu ngữ đời thường hoặc các biến thể phương ngữ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu đối chiếu sang 16 nhóm tâm lý cảm xúc còn lại (như nhóm Phẫn nộ, Kinh cự, Hy vọng, Thất vọng, Tự hào, Xấu hổ...).
  • Nghiên cứu đối chiếu sâu hơn về các kết cấu thành ngữ, quán dụng ngữ biểu thị tâm lý tình cảm dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận liên văn hóa.
  • Ứng dụng kết quả xây dựng mạng ngữ nghĩa vào việc thiết kế phần mềm dịch thuật tự động chuyên biệt cho cặp ngôn ngữ Hán - Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu: Tham khảo phương pháp xây dựng khung phân tích nghĩa tố, quy trình trích xuất mạng ngữ nghĩa và kỹ thuật phân lập trường nghĩa.
  • Giảng viên và giáo viên dạy tiếng Hán / tiếng Việt: Sử dụng các bảng đối chiếu cấu trúc cú pháp (Chương 2) để thiết kế bài giảng sửa lỗi sai giao thoa ngôn ngữ cho sinh viên khi dùng vị từ tâm lý với phó từ, tân ngữ và bổ ngữ.
  • Chuyên gia dịch thuật và biên soạn từ điển song ngữ Hán - Việt: Sử dụng 08 bảng phụ lục đối chiếu nghĩa tố (Phụ lục 1 đến 8) để tra cứu chính xác nét nghĩa khác biệt của các từ cận nghĩa biểu thị trạng thái tâm lý.
  • Kỹ sư xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và trí tuệ nhân tạo: Kế thừa các sơ đồ mạng ngữ nghĩa và tham số quan hệ ngữ nghĩa hình thức hóa phục vụ các bài toán dịch máy và nhận diện cảm xúc văn bản.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu từ ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt?

Luận án đã trích xuất và đối chiếu định lượng tổng cộng 253 từ tiếng Hán (từ Hiện đại Hán ngữ Từ điển, 1999) và 236 từ tiếng Việt (từ Từ điển tiếng Việt, 1989/1998) thuộc 04 trường ngữ nghĩa cảm xúc: Hỷ duyệt, Hỉ ái, Bi ai và Tăng ố.

2. Sự khác biệt căn bản về phương thức cấu tạo từ tâm lý tình cảm giữa hai ngôn ngữ là gì?

Tiếng Hán có 08 phương thức cấu tạo từ (đơn, liên miên, đẳng lập, chính phụ, chủ vị, động tân, phụ gia, trùng điệp). Tiếng Việt có 07 phương thức cấu tạo tương tự nhưng không có mô hình từ ghép chủ vị. Tiếng Hán vượt trội về số lượng từ ghép chính phụ và phụ gia; tiếng Việt vượt trội về số lượng từ đơn, từ láy/liên miên, từ ghép bổ sung và từ trùng điệp.

3. Người Hán và người Việt có sự khác biệt tri nhận nào khi chọn ngữ tố chỉ cơ thể để cấu tạo từ cảm xúc?

Người Hán ưa chuộng sử dụng hình tượng và ngữ tố "Tâm" (心 - tim/lòng), thể hiện qua hệ thống chữ Hán mang bộ Tâm (心, 忄). Ngược lại, người Việt có xu hướng tri nhận cảm xúc bắt nguồn từ "Lòng" hoặc "Dạ" (ruột/bụng), tạo ra hàng loạt từ ngữ như vui lòng, đau lòng, đẹp lòng, đắng lòng, phiền lòng, hả dạ...

4. Khả năng kết hợp giữa vị từ tâm lý với bổ ngữ mức độ trong hai ngôn ngữ khác nhau như thế nào?

Trong tiếng Việt, từ tâm lý tình cảm có thể kết hợp trực tiếp với bổ ngữ mức độ (như vui quá, ghét vô cùng). Trong tiếng Hán, vị từ tâm lý không thể trực tiếp mang bổ ngữ mà bắt buộc phải thông qua trợ từ kết cấu "得" (ví dụ: 痛恨得不得了).

5. Quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu trong mạng ngữ nghĩa của tiếng Hán và tiếng Việt có gì trái ngược nhau?

Trong mạng ngữ nghĩa tiếng Hán, Quan hệ gia nghĩa (A) chiếm ưu thế vượt trội, kế tiếp là Quan hệ tu sức (X). Ngược lại, trong tiếng Việt, Quan hệ tu sức (X) giữ vai trò chủ đạo, còn Quan hệ gia nghĩa (A) đứng ở vị trí thứ hai.


Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thúy Hồng là công trình nghiên cứu chuyên khảo về nhóm từ ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt trên hai trục cấu trúc và ngữ nghĩa. Dựa trên ngữ liệu từ điển chuẩn mực và kho ngữ liệu thực tế, tác giả đã làm sáng tỏ hệ thống 08 phương thức cấu tạo từ của tiếng Hán và 07 phương thức của tiếng Việt, cùng các quy tắc kết hợp cú pháp khác biệt với phó từ, tân ngữ và bổ ngữ. Luận án đã thiết lập thành công mạng ngữ nghĩa cho 04 trường cảm xúc Hỷ, Ái, Ai, Ố, chỉ rõ sự khác biệt về cơ chế phái sinh từ vựng và đặc trưng tri nhận văn hóa giữa hai dân tộc. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu và mô hình phân tích ngữ nghĩa có giá trị ứng dụng cho công tác giảng dạy ngôn ngữ, dịch thuật song ngữ và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.