Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, mã số 62 22 01 02) của tác giả Washizawa Takuya, bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng và TS Nguyễn Tuấn Cường, tập trung giải quyết vấn đề chuyển dịch hư từ giữa Hán văn và văn Nôm trong tác phẩm song ngữ trung đại Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Tiếng Việt và tiếng Hán có lịch sử tiếp xúc lâu dài; việc chuyển dịch từ Hán văn sang văn Nôm thời trung đại phản ánh sự phát triển của tiếng Việt văn học và quá trình giao lưu văn hóa khu vực. Đối với hai ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính, trật tự từ và hệ thống hư từ là hai phương tiện ngữ pháp giữ vai trò nòng cốt. Trong các tư liệu giải âm thời kỳ thế kỷ XVI–XVII, tác phẩm Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (TBTKML) là công trình song ngữ có quy mô lớn. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn bản học, văn học hoặc khảo sát hư từ tiếng Việt một cách độc lập mà chưa đặt trọng tâm vào cơ chế chuyển dịch đối chiếu toàn diện giữa hệ thống hư từ Hán văn nguyên bản và hư từ văn Nôm dịch giải. Đặc biệt, cách thức sử dụng các hư từ tiếng Việt cổ có tần suất cao và chức năng phức tạp như chưng, thửa vẫn chưa được phân tích thấu đáo trong mối quan hệ đối ứng với các hư từ Hán văn tương ứng.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
    1. Làm sáng tỏ phương thức chuyển dịch hư từ trong tác phẩm Tân biên Truyền kỳ mạn lục;
    2. Làm sáng tỏ đặc trưng cách dùng các hư từ tiếng Việt trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục thông qua việc đối chiếu với Hán văn nguyên bản, từ đó chỉ ra đặc trưng của tác phẩm trong bối cảnh dịch thuật Hán – Nôm trung đại và đặc điểm lịch sử tiếng Việt giai đoạn thế kỷ XVI–XVII.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các hư từ Hán văn trong nguyên bản và các hư từ tiếng Việt (văn Nôm) trong bản dịch của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú.
    • Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ 20 truyện (chia làm 4 quyển) của tác phẩm TBTKML, tập trung khảo cứu cơ chế đối dịch giữa các tiểu loại hư từ Hán và Nôm, đặc biệt đi sâu vào các hư từ tiêu biểu như CHI (之), Ư (於), VU (于), KỲ (其), SỞ (所), PHÙ (夫), PHÀM (凡), chưng, thửa.
    • Phạm vi tư liệu: Cứ liệu chính là bản khắc in TBTKML mang ký hiệu HN 257 và HN 258 (bộ ván in năm 1774, lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học, được Nguyễn Quang Hồng ảnh ấn và phiên âm năm 2004). Đồng thời, luận án đối chiếu mở rộng với 7 văn bản Hán Nôm trung đại khác có niên đại liên quan để xác định giá trị ngữ pháp của các hư từ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước trên bốn mảng chính:

  1. Nghiên cứu về hư từ tiếng Việt và tiếng Hán:

    • Về tiếng Việt: Nguyễn Anh Quế (1988) khảo sát hệ thống hư từ tiếng Việt hiện đại từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp. Hoàng Trọng Phiến (2000) biên soạn từ điển giải thích hư từ tiếng Việt hiện đại, phân định 9 tiểu loại (đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, phó từ, thán từ, trợ từ, tiểu từ). Vũ Đức Nghiệu (2001, 2011) xác lập tiêu chí hư từ (không có nghĩa từ vựng chân thực, không có chức năng định danh, làm công cụ biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp) và khảo sát hư từ lịch sử. Diệp Quang Ban (2005) phân tích vị trí trung gian của đại từ và cấu trúc kết từ, trợ từ, ngữ khí từ. Nguyễn Thiện Giáp (2008) phân tích đặc tính phụ thuộc cú pháp của hư từ. Đào Thanh Lan (2002), Lê Đình Khẩn (2001), Đỗ Phương Lâm (2012) nghiên cứu hệ thống hư từ gốc Hán và Hán Việt trong tiếng Việt.
    • Về tiếng Hán: Mã Kiến Trung với Mã thị văn thông (1898) đặt nền móng phân định thực tự – hư tự; Dương Thụ Đạt soạn Từ thuyên; Trần Văn Chánh (1999) biên soạn Từ điển hư từ Hán ngữ cổ đại và hiện đại. Các từ điển chuyên sâu về hư từ Hán cổ của Lý Tịnh Chi (1980 – thu thập 333 từ phần chính, 406 từ phần phụ), Hà Lạc Sĩ (1985 – 209 từ đơn tiết), Vương Hải Phân (1996 – 829 từ), Dương Bá Tuấn (1985), Sato (1996), Pulleyblank (1995) và Trần Bồ Thanh (2003) cung cấp cơ sở phân loại tiểu loại hư từ Hán văn.
  2. Nghiên cứu về văn bản và hư từ trong tác phẩm TBTKML:

    • Nguyễn Quang Hồng (2004, 2007) khảo sát văn bản học, phiên âm bản giải âm HN 257 – HN 258 và nghiên cứu phương thức chuyển dịch từ ngữ song tiết. Hoàng Thị Hồng Cẩm (2010) khảo sát dị bản văn bản R.1450–1453 và lập danh sách từ cổ Nôm đối chiếu với chữ Hán. Kawamoto (2001) phiên âm chữ in hiện đại và so sánh TBTKML với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Cù Tông Cát, 1347–1433). Nguyễn Nam (2001) khảo sát lịch sử tiếp nhận và các bản dịch hiện đại.
    • Về hư từ TBTKML: Vũ Đức Nghiệu (2011) lập danh sách 126 hư từ Nôm trong TBTKML, phân chia theo chức năng và lịch sử biến đổi. Stankevitch (1994, 2001) chỉ ra nguyên tắc dịch sát từng chữ và hiện tượng tương ứng với hư từ ZERO Hán. Bùi Thanh Hùng (2011) khảo sát hư từ chưng trong truyện thứ nhất của TBTKML.
  3. Lý thuyết phiên dịch học và tiếp xúc ngôn ngữ:

    • Các trào lưu dịch thuật cổ điển: Cicero, St. Jerome (tranh luận dịch chữ – word-for-word và dịch nghĩa – sense-for-sense), Martin Luther, Dryden, Étienne Dolet, Tytler, Schleiermacher.
    • Các lý thuyết dịch thuật hiện đại: Roman Jakobson và Eugene Nida (lý thuyết tương đương hình thức và tương đương năng động), James Holmes, Gideon Toury (khái niệm chuẩn dịch thuật norm, độ thỏa đáng adequate và độ chấp nhận acceptable), Lawrence Venuti (chiến lược bản địa hóa domestication và ngoại lai hóa foreignization), Susan Bassnett và Harish Trivedi (1999, lý thuyết dịch thuật hậu thuộc địa).
    • Tiếp nhận Hán văn ở Đông Á: Nghiên cứu về phương thức "huấn độc" (kundoku) tại Nhật Bản của Iwatsuki (2003), Sato (1996). Nghiên cứu về phương pháp "dịch chữ" và "dịch ý" tại Việt Nam của Trần Nghĩa (1997), giả thuyết về huấn độc ở Việt Nam của Nguyễn Thị Oanh (2006, 2008). Nghiên cứu phân loại lý thuyết dịch thuật tại Việt Nam của Nguyễn Hồng Cổn (2001). Nghiên cứu về hiện tượng "giao thoa" (interference) trong văn bản giải âm Khóa hư lục của Stankevitch (2002).
  4. Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án: Các công trình trước đây hoặc chỉ nghiên cứu hư từ tiếng Việt theo hướng đồng đại, hoặc khảo sát hư từ TBTKML một cách đơn lập, hoặc chỉ giới hạn ở một số truyện/một số từ riêng lẻ. Luận án của Washizawa Takuya là công trình đầu tiên tiến hành khảo sát toàn văn bản TBTKML, đặt hệ thống hư từ Hán và Nôm trong thế đối chiếu song ngữ trực tiếp, kết hợp lý thuyết phiên dịch học với ngữ pháp lịch sử để phân tích cơ chế dịch cố định, dịch linh hoạt, hiện tượng tránh lặp ("trường hợp gần nhau") và hiện tượng giao thoa ngữ pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết:
    • Quan điểm phiên dịch: Luận án tiếp thu phân loại của Nguyễn Hồng Cổn (2001), coi phiên dịch trước hết là một hoạt động ngôn ngữ học (xác lập các tương ứng ngữ pháp – từ vựng giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích), kết hợp với góc độ hoạt động văn hóa và giao tiếp. Bản giải âm TBTKML được xác định là một bản dịch trực dịch (dịch sát từng chữ) từ Hán văn sang tiếng Việt văn Nôm, không phải là văn bản huấn độc đơn thuần.
    • Tiêu chí xác định hư từ: Luận án áp dụng 3 tiêu chí: (1) không có nghĩa từ vựng chân thực hoặc có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt; (2) chức năng chủ yếu là biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp; (3) không độc lập làm thành phần câu, không làm trung tâm cụm từ. Hư từ Hán văn được xác định theo danh mục "phần chính" trong từ điển của Lý Tịnh Chi (1980). Hư từ văn Nôm căn cứ vào danh mục 126 hư từ do Vũ Đức Nghiệu (2011) xác lập và bổ sung một số vị từ tình thái, trợ từ xuất hiện trong văn bản (phải, rồi, lọ...).
    • Phân loại tiểu loại hư từ: Hệ thống hư từ Hán văn gồm 10 tiểu loại theo Lý Tịnh Chi, Dương Bá Tuấn và Pulleyblank: phó từ, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, trợ từ, thán từ, đại từ, trợ động từ, kiêm từ, phán đoán từ. Hư từ tiếng Việt cổ được đối chiếu tương ứng dựa trên miêu tả của Diệp Quang Ban (2005), Vương Lộc (1995) và Trần Trọng Dương (2014).
    • Khung phân tích hiện tượng giao thoa: Kế thừa 3 cách thức do Stankevitch (2002) đề xuất: (1) mở rộng chức năng hư từ vốn có trong tiếng Việt; (2) dùng thực từ tiếng Việt gia thêm chức năng mới để đối dịch; (3) mượn nguyên dạng hư từ Hán văn (dịch bằng từ Hán Việt đồng nhất).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu: Lấy cách dùng hư từ trong nguyên bản Hán văn làm cơ sở đối chiếu (tertium comparationis), so sánh các cấu trúc ngữ pháp tương ứng trong bản dịch Nôm theo 13 nguyên tắc của Nguyễn Văn Chiến (1992) và 4 nguyên tắc của Bùi Mạnh Hùng (2008).
    • Phương pháp phiên dịch học: Phân tích thao tác chuyển dịch của dịch giả thời trung đại giữa hai ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập.
    • Phương pháp văn bản học Hán Nôm: Giám định, đối chiếu các bản khắc in TBTKML để bảo đảm tính chuẩn xác của cứ liệu văn bản.
    • Phương pháp từ vựng học và ngữ pháp học: Phân tích ngữ cảnh, kết hợp thao tác thống kê định lượng, quy nạp và diễn dịch trên toàn bộ ngữ liệu.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu:
    • Văn bản khảo sát chính: Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, ký hiệu HN 257 (quyển 1–2) và HN 258 (quyển 3–4), bản in ván khắc năm 1774 lưu trữ tại Viện Văn học (bản in trong công trình của Nguyễn Quang Hồng, 2004).
    • 7 văn bản đối chiếu:
      1. Thiền tông Khóa hư ngữ lục (TTKHNL): Tuệ Tĩnh dịch giải nghĩa thế kỷ XIV từ nguyên tác của Trần Thái Tông (thế kỷ XIII);
      2. Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (PT): văn bản thế kỷ XII hoặc XV (bản Hoàng Thị Ngọ, 1999);
      3. Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục (CCL): Viên Thái viết thế kỷ XV, bản in năm 1752 (bản Nguyễn Quang Hồng, 2001);
      4. Thi Kinh giải âm (TKGÂ): bản in năm 1714, dịch giải 26 câu Chu Nam và Chiêu Nam (Nguyễn Tuấn Cường, 2013);
      5. Dương tiết diễn nghĩa (DTDN): dịch từ tác phẩm của Phan Vinh (1419–1496), bản in năm 1890;
      6. Quốc âm thi tập (QÂTT): tác phẩm thơ Nôm thế kỷ XV của Nguyễn Trãi (Trần Trọng Dương, 2014);
      7. Thiên Chúa Thánh giáo khải mông (TCTGKM): Jeronimo Maiorica, in năm 1666–1668 (Nguyễn Thị Tú Mai, 2012).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan và khung lý thuyết

Chương 1 thiết lập cơ sở lý luận, xác định lai lịch văn bản, tác giả và niên đại của TBTKML. Nguyên tác Hán văn Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện do Nguyễn Dữ sáng tác vào thế kỷ XVI (muộn nhất năm 1547 theo bài tựa của Hà Thiện Hán). Phần dịch Nôm giải âm tương truyền do Nguyễn Thế Nghi hoàn thành vào cuối thế kỷ XVI (trước năm 1595). Luận án khảo sát 5 bộ ván in hiện còn (1712, 1714, 1737, 1763, 1774) và luận chứng việc lựa chọn bản HN 257 – HN 258 làm văn bản trục cơ sở.

Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu hư từ trong tiếng Hán và tiếng Việt, đối chiếu phương thức dịch thuật và huấn độc ở Nhật Bản và Việt Nam, đồng thời kế thừa bảng phân loại 126 hư từ tiếng Việt trong TBTKML của Vũ Đức Nghiệu (2011):

Nhóm chức năng ngữ pháp Hư từ cổ Hư từ đã biến đổi Hư từ không biến đổi Tổng số
(a) Làm thành tố phụ (trong danh ngữ / vị ngữ) chẳng, chăng, chỉn, chưng, chửa, cứ, khôn, liên, mựa, tua (10 từ) một, những, rất, bèn, đã, đương, mới, từng, vừa, chỉ, hằng, hợp, khá, khả, không, sẽ, sắp, thực, vốn (19 từ) cùng, chớ, đều, đừng, hãy, cũng, cực, nhau (8 từ) 39 (kèm 2 từ chưa phân định: mọi, mỗi)
(b) Nối kết (từ với từ, vế câu, câu) bằng, bui, dường, đà, há, hầu, hòa, khả mặc, luống, mặc, ngõ, nữa, nhẫn, phương chi, song le, tày, thửa, thửa mặc, vả, xảy (20 từ) bằng, bởi, rằng, ở, ra, vào, sang, tới, trên, trong, trước, về, xuống, dưới, là, nên, như, vì, với, đến, hoặc, ngay, song, qua, liền, tựa, và (27 từ) hay, mà, thì (thời), cho, để, kẻo, đã mà, dầu, dẫu, giữa, lại, lắm, quá, lên, ngoài, thà, sau, càng, của, cho nên, hễ, hơn, nhân, còn, được, hẳn, huống chi, phàm, tuy, từ, tự (31 từ) 79 (kèm 1 từ chưa phân định: chính)
(c) Biểu thị tình thái (ngữ khí cuối câu) bấy, mà chớ, ru, vay (4 từ) ắt, đấy (2 từ) thay, vậy (2 từ) 8
Tổng cộng 34 48 41 126 (kèm 3 từ chưa gán nhóm lịch sử)

Chương 1 cũng nhận diện 21 hư từ Hán văn được dịch bằng từ Hán Việt đồng nhất trong TBTKML: chuyên (專), chuyển (轉), cực (極), cưỡng (強/彊), định (定), đương (當), giả (假), hoặc (或), hợp (合), huống (況), khả (可), mỗi (每), nhân (因), sơ (初), tạm (暫), tất (悉), thậm (甚), thời (時), thực (實), tín (信), tuy (雖).

Chương 2: Toàn cảnh và đặc điểm của cách dịch hư từ Hán văn sang hư từ văn Nôm trong TBTKML

Chương 2 mô tả diện mạo tổng thể của các tương ứng chuyển dịch hư từ Hán – Nôm trong TBTKML. Tác phẩm thể hiện tính nhất quán cao về tỷ lệ tương ứng trực dịch, phản ánh phương thức dịch chữ nghiêm ngặt. Luận án phân tích hai hiện tượng nổi bật:

  1. Các trường hợp cách dịch đã được cố định hóa: Nhiều hư từ Hán văn có mô hình chuyển dịch đơn nhất hoặc chiếm tỷ lệ áp đảo sang một hư từ Nôm cố định, hình thành quy ước dịch thuật đồng đại (như DĨ 以 thường dịch là lấy, TỰ 自 dịch là tự/từ, GIAI 皆 dịch là đều).
  2. Giải thích các trường hợp dịch linh hoạt:
    • Khác biệt theo ý nghĩa và chức năng: Một hư từ Hán mang nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau sẽ được dịch bằng các hư từ Nôm tương ứng với từng chức năng. Điển hình là chữ CHI (之): khi làm trợ từ liên kết định ngữ – trung tâm ngữ được dịch là chưng; khi làm đại từ thay thế tân ngữ được dịch là đấy hoặc chưng.
    • Khác biệt theo văn cảnh và vị trí trong câu: Vị trí cú pháp của hư từ trong cấu trúc câu chi phối việc lựa chọn từ dịch Nôm thích hợp nhằm bảo đảm tính tương thích ngữ pháp tiếng Việt.
    • Khác biệt do "trường hợp gần nhau": Luận án phát hiện quy luật dịch thuật: khi hai hoặc nhiều hư từ Hán văn vốn có thói quen dịch sang cùng một hư từ Nôm (như CHI, Ư, VU, PHÙ đều có thể dịch là chưng) xuất hiện ở vị trí tiếp giáp hoặc gần nhau trong cùng một câu/ngữ đoạn, người dịch sẽ chủ động chuyển đổi một trong các hư từ đó sang một từ dịch Nôm khác (hoặc dùng từ thay thế) để tránh lặp từ trong bản dịch Nôm.

Chương 3: Nhận định chức năng của hư từ chưng và thửa thông qua việc đối chiếu với những hư từ Hán trong TBTKML

Chương 3 đi sâu nghiên cứu hai hư từ cổ đặc trưng và có tần suất xuất hiện cao nhất trong văn bản giải âm:

  1. Chức năng của hư từ chưng:

    • Đối chiếu với giới từ Ư (於) và VU (于): Chưng hoạt động như một giới từ chỉ xuất phát điểm, nơi chốn, đối tượng, phương hướng hoặc thời gian, tương đương với các giới từ Hán cổ.
    • Đối chiếu với ngữ khí từ PHÙ (夫): Chưng được đặt ở đầu câu hoặc đầu phân cú để đánh dấu ngữ khí phát đoan, đưa ra chủ đề bàn luận.
    • Đối chiếu với phó từ PHÀM (凡): Chưng đóng vai trò đánh dấu phạm vi tổng quát hóa sự vật, hiện tượng.
    • Đối chiếu với trợ từ CHI (之): Trong kết cấu chính phụ Hán văn $A_h\text{ CHI }B_h$, bản dịch Nôm chuyển đổi thành cấu trúc $A_n\text{ chưng }B_n$ hoặc đảo trật tự thành $B_n\text{ chưng }A_n$. Khảo sát cho thấy chưng trong vị trí này thực hiện chức năng phân định ranh giới ngữ đoạn và liên kết thành phần phụ nghĩa, khẳng định chưng có chức năng đa dạng vượt ra ngoài phạm vi một giới từ đơn thuần.
  2. Chức năng của hư từ thửa:

    • Đối chiếu với đại từ/trợ từ KỲ (其): Thửa tương ứng với chức năng chỉ thị sở hữu hoặc định ngữ chỉ xuất, gắn kết hành động với chủ thể.
    • Đối chiếu với trợ từ SỞ (所): Thửa kết hợp với vị từ đứng sau để danh hóa vị từ (tạo thành ngữ danh từ chỉ đối tượng của hành động). Khi đối dịch kết cấu SỞ DĨ (所以), bản dịch Nôm sử dụng tổ hợp thửa mặc để biểu thị nguyên nhân hoặc phương tiện.
    • Tổng hợp: Cả chưng và thửa đều là những công cụ ngữ pháp then chốt của tiếng Việt cổ thế kỷ XVI, giữ vai trò cấu trúc hóa các quan hệ cú pháp phức tạp tiếp nhận từ văn bản Hán văn.

Chương 4: Nghiên cứu đối chiếu các tiểu loại của hư từ trong nguyên bản Hán văn và văn dịch Nôm của TBTKML

Chương 4 khảo sát đối chiếu chi tiết theo từng tiểu loại hư từ giữa Hán văn và văn Nôm:

  • Liên từ: Xuất hiện mối quan hệ tương ứng 1 đối 1 chiếm ưu thế (NHI 而 dịch thành mà, CẬP 及 dịch thành cùng, NHƯỢC 若 dịch thành bằng).
  • Phó từ: Thể hiện mối quan hệ tương ứng nhiều đối nhiều phức tạp. Các phó từ chỉ mức độ, thời gian, phạm vi, phủ định trong chữ Hán (GIAI 皆, TẤT 悉, CÂU 俱, TẬP 輯) được dịch tương ứng bằng nhiều phó từ Nôm (đều, hết, thảy, cùng), phản ánh sự phân hóa ngữ nghĩa tinh tế của tiếng Việt trung đại.
  • Giới từ: Xuất hiện hiện tượng sử dụng thực từ tiếng Việt (đặc biệt là các động từ chỉ hướng, hành động như ở, lại, sang, lấy, cho) để đối dịch các giới từ Hán (Ư 於, DĨ 以, DỮ 與), chứng minh cơ chế ngữ pháp hóa của hệ thống giới từ tiếng Việt.
  • Ngữ khí từ: Cách dịch thể hiện tính linh hoạt cao ở vị trí cuối câu. Các ngữ khí từ Hán (DÃ 也, HĨ 矣, HOA 乎, TAI 哉) được chuyển dịch thành vậy, thay, ru, chăng, vay, đấy.
  • Trợ từ: Tình hình đối dịch đa dạng, bao gồm việc sử dụng chưng, thửa, cái hoặc tương ứng với hư từ ZERO (lược bỏ hư từ khi cấu trúc tiếng Việt không đòi hỏi).
  • Đại từ: Khảo sát các đại từ chỉ sự, ngôi thứ ba (KỲ 其, CHI 之, BỈ 彼, THỬ 此), đại từ nghi vấn (HÀ 何 $\rightarrow$ chi, gì, nào, THÙY 誰 $\rightarrow$ ai), và cấu trúc của đại từ/ngữ khí từ GIẢ (者) đối dịch thành kẻ, người, ấy.
  • Khảo sát hiện tượng giao thoa ngữ pháp: Luận án kiểm chứng lại 3 phương thức giao thoa trong TBTKML, chỉ ra rằng dịch giả đã mở rộng phạm vi kết hợp của các hư từ Nôm vốn có, chuyển hóa linh hoạt thực từ tiếng Việt sang chức năng ngữ pháp, đồng thời bảo lưu 21 hư từ Hán Việt để đáp ứng yêu cầu dịch sát cấu trúc nguyên tác.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Xác lập khung miêu tả đối chiếu có hệ thống giữa hư từ Hán văn cổ và hư từ tiếng Việt thế kỷ XVI–XVII trong một tác phẩm song ngữ hoàn chỉnh.
    • Làm sáng tỏ cơ chế tương tác ngôn ngữ và hiện tượng giao thoa ngữ pháp trong hoạt động dịch thuật thời trung đại; chỉ ra rằng bản dịch Nôm vừa tuân thủ quy tắc trực dịch từng chữ, vừa bảo đảm tính tương thích với cấu trúc cú pháp của tiếng Việt bản ngữ.
    • Phát hiện và giải thích quy luật chuyển dịch "trường hợp gần nhau" như một giải pháp tu từ – cú pháp của dịch giả nhằm tránh hiện tượng trùng lặp từ ngữ khi đối dịch các hư từ Hán đồng chức năng.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và tư liệu:

    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về cách dùng và tần suất xuất hiện của các tiểu loại hư từ Hán – Nôm trong toàn bộ 20 truyện của TBTKML.
    • Miêu tả chi tiết, chuẩn xác các chức năng ngữ pháp đa diện của hai hư từ tiếng Việt cổ tiêu biểu là chưng và thửa, khắc phục những nhận định phiến diện hoặc chưa đầy đủ trong các công trình nghiên cứu trước đây.
    • Xây dựng hệ thống dữ liệu đối chiếu ngữ liệu Hán – Nôm có độ tin cậy cao, đóng góp nguồn tư liệu giá trị cho công tác nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, ngữ pháp lịch sử và văn bản học Hán Nôm.
  3. Kiến nghị và giải pháp học thuật:

    • Đề xuất áp dụng mô hình phân tích đối chiếu song ngữ Hán – Nôm vào việc nghiên cứu các văn bản giải âm trung đại khác (Thi Kinh giải âm, Khóa hư lục giải âm, Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh...).
    • Đề xuất ứng dụng kết quả xác định chức năng hư từ cổ (chưng, thửa, các kết từ, trợ từ) vào công tác hiệu đính, phiên âm và chú giải các văn bản Nôm thế kỷ XV–XVIII.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Do khối lượng văn bản lớn và tính chất phức tạp của ngôn ngữ trung đại, luận án tập trung khảo sát văn bản cơ sở HN 257 – HN 258 của TBTKML mà chưa thể mở rộng thống kê định lượng tuyệt đối trên toàn bộ các dị bản ván khắc khác.
    • Ranh giới giữa thực từ và hư từ đối với một số lớp từ chỉ phương hướng, thời gian, vị trí (trong, ngoài, trước, sau, lên, xuống) trong tiếng Việt cổ có những trường hợp trung gian chưa thể khu biệt dứt khoát trong mọi ngữ cảnh.
    • Chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với toàn bộ các từ Việt gốc Hán cổ ngoài danh mục 21 hư từ Hán Việt đồng nhất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đối chiếu hư từ sang các thể loại văn bản giải âm tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo), văn bản giải âm kinh điển Nho gia và văn bản hành chính trung đại.
    • Nghiên cứu diễn tiến lịch sử của hệ thống hư từ từ tiếng Việt trung đại sang tiếng Việt hiện đại theo trục lịch đại hoàn chỉnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Việt Nam, Hán Nôm học, Văn học trung đại Việt Nam và Lý luận dịch thuật.
    • Các chuyên gia văn bản học, biên tập viên, nhà nghiên cứu tại các viện nghiên cứu chuyên ngành (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Ngôn ngữ học, Viện Văn học) thực hiện công tác phiên âm, khảo dị, chú giải văn bản cổ.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng thống kê và phân loại 126 hư từ tiếng Việt trong TBTKML (Chương 1);
    • Cơ chế giải thích cách dịch cố định, dịch linh hoạt và quy luật "trường hợp gần nhau" (Chương 2);
    • Khảo sát chuyên sâu về chức năng ngữ pháp của chưng và thửa đối chiếu với CHI, Ư, KỲ, SỞ (Chương 3);
    • Bảng miêu tả đối chiếu 10 tiểu loại hư từ Hán – Nôm và 21 hư từ Hán Việt đồng nhất (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án lựa chọn bản văn bản nào của Tân biên Truyền kỳ mạn lục làm cứ liệu chính và căn cứ vào lý do gì?
    Luận án sử dụng bản khắc in mang ký hiệu HN 257 và HN 258 (thuộc bộ ván in năm 1774), hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học Việt Nam, đã được GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng ảnh ấn và phiên âm năm 2004. Đây được đánh giá là bản sách có chất lượng tốt nhất về mặt văn bản học, phản ánh trung thành nhất bản khắc vốn có.

  2. Theo số liệu trong luận án, hệ thống 126 hư từ tiếng Việt trong TBTKML được phân loại theo chức năng ngữ pháp như thế nào?
    Hệ thống 126 hư từ Nôm trong TBTKML được chia thành 3 nhóm chức năng:

    • 39 hư từ làm thành tố phụ cho danh từ trong danh ngữ hoặc cho động từ/tính từ trong vị ngữ;
    • 79 hư từ thực hiện chức năng nối kết giữa từ với từ, giữa các thành phần câu hoặc giữa các câu;
    • 8 hư từ là các tiểu từ tình thái đứng ở cuối câu biểu thị ngữ khí.
  3. Hiện tượng "trường hợp gần nhau" trong cách chuyển dịch hư từ được luận án giải thích như thế nào?
    Đây là hiện tượng khi hai hoặc nhiều hư từ Hán văn vốn có quy ước dịch sang cùng một hư từ Nôm (ví dụ CHI, Ư, VU, PHÙ đều thường dịch là chưng) xuất hiện ở vị trí kế tiếp hoặc rất gần nhau về mặt cú pháp trong cùng một câu, dịch giả sẽ linh hoạt đổi cách dịch của một trong các từ đó sang một từ Nôm khác để tránh hiện tượng lặp từ trong câu dịch Nôm.

  4. Hai hư từ tiếng Việt cổ tiêu biểu là chưng và thửa tương ứng với những hư từ Hán văn nào trong nguyên bản?

    • Chưng tương ứng với các giới từ Ư (於), VU (于), ngữ khí từ PHÙ (夫), phó từ PHÀM (凡) và trợ từ CHI (之) trong kết cấu chính phụ.
    • Thửa tương ứng với đại từ/trợ từ KỲ (其), trợ từ danh hóa SỞ (所), và tổ hợp SỞ DĨ (所以 $\rightarrow$ thửa mặc).
  5. Luận án đã ghi nhận bao nhiêu hư từ Hán văn được dịch sang bản Nôm bằng chính từ Hán Việt đồng nhất?
    Luận án thống kê được 21 hư từ Hán văn được dịch bằng từ Hán Việt đồng nhất: chuyên (專), chuyển (轉), cực (極), cưỡng (強/彊), định (定), đương (當), giả (假), hoặc (或), hợp (合), huống (況), khả (可), mỗi (每), nhân (因), sơ (初), tạm (暫), tất (悉), thậm (甚), thời (時), thực (實), tín (信), tuy (雖).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Washizawa Takuya đã giải quyết một cách tường minh phương thức chuyển dịch và đặc trưng hoạt động của hệ thống hư từ trong tác phẩm song ngữ Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Bằng việc kết hợp phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu với lý thuyết phiên dịch học trên cứ liệu văn bản thế kỷ XVI–XVII chuẩn xác, công trình đã làm sáng tỏ chức năng ngữ pháp của các hư từ cổ như chưng, thửa, cơ chế dịch cố định, dịch linh hoạt và hiện tượng giao thoa Hán – Nôm. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu học thuật quan trọng cho lịch sử tiếng Việt, ngữ pháp lịch sử và văn bản học Hán Nôm trung đại.