Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đối chiếu hư từ Hán văn và Nôm trong Truyền kỳ mạn lục

Luận án tiến sĩ phân tích hư từ Hán văn và Nôm trong tác phẩm song ngữ Truyền kỳ mạn lục, góp phần làm rõ giá trị văn hóa ngôn ngữ.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

174
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ KHUNG LÝ THUYẾT

1.1. Tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục (TBTKML)

1.2. Vấn đề tác giả và niên đại

1.3. Một số nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học

1.4. Lý thuyết về hư từ và nghiên cứu về hư từ văn Nôm trong TBTKML

1.5. Một số lý thuyết về hư từ

1.6. Hư từ văn Nôm trong TBTKML

1.7. Phiên dịch học và vấn đề phiên dịch hư từ

1.8. Một số nghiên cứu về ngôn ngữ học đối chiếu

1.9. Khung lý thuyết được sử dụng trong luận án

1.10. Khung lý thuyết liên quan đến phiên dịch và đối chiếu

1.11. Quan niệm chung về hư từ và tiêu chí xác định hư từ

1.12. Các tiểu loại hư từ

1.13. Cách nhận định hiện tượng giao thoa

1.14. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: TOÀN CẢNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁCH DỊCH HƯ TỪ HÁN VĂN SANG HƯ TỪ VĂN NÔM TRONG TBTKML

2.1. Toàn cảnh cách dịch các hư từ

2.2. Các trường hợp cách dịch đã được cố định hóa

2.3. Giải thích các trường hợp dịch linh hoạt

2.4. Khác biệt cách dịch theo ý nghĩa / chức năng

2.5. Khác biệt cách dịch theo văn cảnh / vị trí trong câu

2.6. Khác biệt vì là trường hợp gần nhau

2.7. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH CHỨC NĂNG CỦA HƯ TỪ CHƯNG VÀ THỬA THÔNG QUA VIỆC ĐỐI CHIẾU VỚI NHỮNG HƯ TỪ HÁN TRONG TBTKML

3.1. Cách dùng chưng qua đối chiếu với các hư từ Hán

3.2. Cách dùng chưng trong các bộ từ điển

3.3. Cách dùng chưng tương ứng với giới từ Ư 於 hay VU 于

3.4. Cách dùng chưng tương ứng với PHÙ 夫

3.5. Cách dùng chưng tương ứng với PHÀM 凡

3.6. Cách dùng chưng tương ứng với CHI 之

3.7. Ý nghĩa và chức năng của CHI trong những bộ từ điển

3.8. Cách dịch trợ từ CHI điển hình và những nghiên cứu đi trước

3.9. Cách giải thích chính xác về chức năng của trợ từ CHI

3.10. Nhận diện cách dùng chưng bằng việc đối chiếu với CHI

3.11. Cách dùng thửa qua đối chiếu với các hư từ Hán

3.12. Cách dùng thửa tương ứng với KỲ 其

3.13. Cách dùng thửa tương ứng với SỞ 所

3.14. Khảo sát chung về chức năng của chưng và thửa qua việc đối chiếu

3.15. Tiểu kết Chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC TIỂU LOẠI CỦA HƯ TỪ TRONG NGUYÊN BẢN HÁN VĂN VÀ VĂN DỊCH NÔM CỦA TBTKML

4.1. Thống kê cách dịch các hư từ Hán thuộc mỗi tiểu loại

4.2. Đối chiếu liên từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề tương ứng 1 đối 1

4.3. Đối chiếu phó từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề tương ứng nhiều đối nhiều

4.4. Đối chiếu giới từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề sử dụng thực từ Nôm

4.5. Đối chiếu ngữ khí từ Hán dịch sang Nôm: vấn đề về cách dịch linh hoạt

4.6. Đối chiếu trợ từ Hán dịch sang Nôm: tình hình đa dạng

4.7. Đối chiếu đại từ Hán dịch sang Nôm: nhận định thêm vài hư từ

4.8. Đối chiếu các đại từ chỉ sự hay ngôi thứ ba

4.9. Đối chiếu các đại từ nghi vấn

4.10. Đối chiếu đại từ / ngữ khí từ GIẢ 者 và ngữ khí từ ấy

4.11. Đối chiếu hư từ Hán thuộc tiểu loại khác dịch sang Nôm

4.12. Khảo sát lại về hiện tượng giao thoa

4.13. Tiểu kết Chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hư từ Hán văn và Nôm trong Truyền kỳ mạn lục

Nghiên cứu hư từ trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học và văn học Việt Nam. Tác phẩm này không chỉ là một di sản văn hóa mà còn là một tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu sự giao thoa giữa Hán văn và Nôm. Hư từ, mặc dù ít hơn thực từ, nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Việc đối chiếu hư từ Hán văn và Nôm trong tác phẩm này sẽ giúp làm rõ hơn về đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa của thời kỳ đó.

1.1. Định nghĩa và vai trò của hư từ trong ngôn ngữ học

Hư từ là những từ không có nghĩa độc lập nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc kết nối và thể hiện các quan hệ ngữ pháp trong câu. Chúng thường xuất hiện với tần suất cao trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là trong các tác phẩm cổ điển như Truyền kỳ mạn lục. Việc nghiên cứu hư từ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp và cách thức diễn đạt trong ngôn ngữ.

1.2. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục và bối cảnh lịch sử

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm nổi bật của văn học Việt Nam, được sáng tác vào thế kỷ XVI. Tác phẩm này không chỉ phản ánh đời sống văn hóa, xã hội mà còn là một minh chứng cho sự giao thoa giữa Hán văn và Nôm. Nghiên cứu tác phẩm này sẽ giúp làm rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này.

II. Thách thức trong việc đối chiếu hư từ Hán văn và Nôm

Việc đối chiếu hư từ giữa Hán văn và Nôm trong Truyền kỳ mạn lục gặp nhiều thách thức. Sự khác biệt về ngữ pháp, cấu trúc câu và cách diễn đạt giữa hai ngôn ngữ này tạo ra những khó khăn trong việc dịch thuật. Hơn nữa, sự biến đổi ngữ nghĩa của hư từ theo ngữ cảnh cũng là một yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Khó khăn trong việc xác định hư từ tương ứng

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc đối chiếu hư từ là xác định các hư từ tương ứng giữa Hán văn và Nôm. Nhiều hư từ trong Hán văn không có tương đương trực tiếp trong Nôm, điều này đòi hỏi người dịch phải có kiến thức sâu rộng về cả hai ngôn ngữ.

2.2. Ảnh hưởng của ngữ cảnh đến hư từ

Ngữ cảnh có thể làm thay đổi ý nghĩa và chức năng của hư từ. Do đó, việc hiểu rõ ngữ cảnh trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là rất quan trọng để có thể dịch chính xác các hư từ từ Hán sang Nôm.

III. Phương pháp nghiên cứu hư từ trong Truyền kỳ mạn lục

Để nghiên cứu hư từ trong Truyền kỳ mạn lục, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu và phiên dịch học là hai phương pháp chính được sử dụng để phân tích và so sánh các hư từ giữa Hán văn và Nôm. Những phương pháp này giúp làm rõ hơn về cách thức chuyển dịch và đặc trưng ngôn ngữ của tác phẩm.

3.1. Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu

Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu giúp xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa hư từ trong Hán văn và Nôm. Qua đó, có thể rút ra những kết luận về cách thức sử dụng hư từ trong từng ngôn ngữ.

3.2. Phương pháp phiên dịch học

Phương pháp phiên dịch học không chỉ tập trung vào việc dịch nghĩa mà còn xem xét các yếu tố văn hóa và ngữ cảnh. Điều này giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách thức chuyển dịch hư từ trong Truyền kỳ mạn lục.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hư từ trong Truyền kỳ mạn lục

Nghiên cứu hư từ trong Truyền kỳ mạn lục không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc giảng dạy ngôn ngữ, dịch thuật và nghiên cứu văn hóa. Hơn nữa, việc hiểu rõ về hư từ cũng giúp nâng cao khả năng giao tiếp và viết văn trong tiếng Việt.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu về hư từ có thể được áp dụng trong giảng dạy ngôn ngữ, giúp học viên hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng hư từ trong tiếng Việt.

4.2. Ứng dụng trong dịch thuật

Nghiên cứu hư từ cũng có thể hỗ trợ trong việc dịch thuật, đặc biệt là trong việc chuyển dịch các tác phẩm văn học cổ điển từ Hán sang Nôm và ngược lại.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu hư từ trong tương lai

Nghiên cứu hư từ trong Truyền kỳ mạn lục đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc hiểu rõ về hư từ không chỉ giúp làm sáng tỏ đặc trưng ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các hư từ trong các tác phẩm văn học khác để có cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần mở rộng nghiên cứu sang các tác phẩm văn học khác để so sánh và đối chiếu hư từ, từ đó làm rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ Việt Nam qua các thời kỳ.

5.2. Tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa

Việc nghiên cứu hư từ không chỉ có giá trị ngôn ngữ mà còn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về di sản văn hóa của tổ tiên.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đối chiếu các hư từ hán văn dịch sang các hư từ văn nôm trong tác phẩm song ngữ hán nôm truyền kỳ mạn lục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận án sẽ lần lượt giải quyết các vấn đề: 1 - giới thiệu tác phẩm TBTKML, 2 - một số lý thuyết về hư từ, 3 - nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học. Hư từ luôn có vai trò quan trọng trong những ngôn ngữ đơn lập, nghiên cứu hư từ đã thu hút nhiều quan tâm của giới nghiên cứu xưa nay. Trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sẽ xác định những vấn đề phải giải quyết trong luận án này. Khi nói về phiên dịch học, các nhà nghiên cứu đi trước đã rất chú trọng tập trung thảo luận về phương pháp phiên dịch giữa “dịch chữ” và “dịch nghĩa”, đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến TBTKML.

Dựa trên những nghiên cứu phiên dịch học hiện nay, tác giả luận án đề ra khung lý thuyết chủ yếu trong luận án, đó là quan điểm coi phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ, bên cạnh mặt hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ngoài ra, phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu cũng được giới thiệu để làm rõ phương pháp nghiên cứu luận án này áp dụng. Từ đây, tác giả luận án cũng xác 3 Tác phẩm này còn được gọi tắt là Truyền kỳ mạn lục giải âm. “Giải âm” có khi được dùng với tư cách là thuật ngữ chỉ phần văn dịch Nôm, và cũng là một phần của tên tác phẩm.

Luận án này phân tích cả 2 phần Hán văn và phần văn dịch Nôm, nên chúng tôi gọi tắt là TBTKML, để tránh sự hiểu nhầm rằng luận án chỉ phân tích phần văn dịch Nôm thôi. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định tiêu chí về hư từ và định nghĩa của mỗi tiểu loại thuộc hư từ. Tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục 1. Vấn đề tác giả và niên đại Truyền kỳ mạn lục (từ đây viết tắt là TKML) là một tác phẩm Hán văn của Nguyễn Dữ (阮嶼)4, phỏng đoán được sáng tác vào thế kỷ XVI.

TBTKML là tác phẩm song ngữ, được kết cấu bởi 2 phần: phần Hán văn Truyền kỳ mạn lục; và phần văn dịch Nôm tương truyền do Nguyễn Thế Nghi chuyển dịch. Tác phẩm này gồm 20 truyện (4 quyển, mỗi quyển 5 truyện), thường được coi là đã chịu ảnh hưởng từ Tiễn đăng tân thoại (剪燈新話) của tác giả Trung Hoa là Cù Hựu (瞿佑), tức là Cù Tông Cát (瞿宗吉, 1347-1433) [Nguyễn Quang Hồng 20: tr. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu của Kawamoto [94: tr. 15-25], TKML được cho là có nhiều điểm chung với Tiễn đăng tân thoại nhưng chí hướng và tư tưởng lại khác với Tiễn đăng tân thoại.

Kawamoto cũng cho rằng có thể Nguyễn Dữ đã viết lại Tiễn đăng tân thoại theo kiểu Việt Nam, để “sáng tác” một bộ sách truyền kỳ có đề tài văn hóa, nhân vật, thiên nhiên và thời đại của nước Việt. Nhiều ý kiến nhận định người dịch Nôm là Nguyễn Thế Nghi (阮世儀)6. 4 Không rõ sinh và mất năm nào. Có nhiều khả năng sinh ra vào cuối thế kỷ XV và sống chủ yếu vào nửa đầu thế kỷ XVI.

Nguyễn Dữ đỗ thi Hội, được bổ làm quan, nhưng một năm sau xin về quê để phụng dưỡng mẹ già. Trong thời gian này Nguyễn Dữ đã sáng tác TKML. 9-10] 5 “Il imite en gros le recueil du Tsien teng 剪燈 du lettré yuan.” 6 Dựa vào thông tin trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề và Trần Quý Nha (Trần Trợ). Nguyễn Quang Hồng [20: tr.

12] quan niệm chưa đủ bằng chứng xác thực để khẳng định hay phủ định Nguyễn Thế Nghi có phải là tác giả của bản giải âm của TBTKML hay không, nhưng việc coi Nguyễn Thế Nghi là dịch giả vẫn tạm chấp nhận được, vì Nguyễn Thế Nghi có bản lĩnh văn chương quốc âm đã được ghi nhận trong Công dư tiệp ký. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về niên đại tác phẩm, có thể phỏng đoán rằng TKML bản Hán văn ra đời muộn nhất ở năm Vĩnh Định nguyên niên (1547).7 Thêm nữa, bởi Nguyễn Thế Nghi sống đến cuối đời Mạc (-1595), nên cũng có thể đưa ra giả định rằng phần giải âm trong TBTKML hoàn thành vào cuối thế kỷ XVI [Hoàng Thị Hồng Cẩm 4: tr. Vấn đề văn bản Có 5 bộ ván in cơ bản của TKML của các năm 1712 (chỉ gồm chữ Hán), 1714, 1737, 1763, và 1774 [Kawamoto 94: tr. 27, Nguyễn Quang Hồng 20, tr.8 Trong số 5 văn bản ở Việt Nam9 [20: tr.

15-18], phiên âm của Nguyễn Quang Hồng [20] lấy bản sách mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính để thực hiện, vì bản này là “bản sách có chất lượng tốt nhất về mặt văn bản, nó phản ảnh trung thành nhất bản khắc vốn có” [20: tr. Toàn văn bản sách này được in đính kèm trong ấn phẩm của Nguyễn Quang Hồng. Các bản khác được dùng để tham khảo, đối chiếu với bản HN 257 và HN258, khi cần thiết. Hoàng Thị Hồng Cẩm [4] lại cho biết chi tiết về các chữ khác nhau ghi trong từng văn bản, từ đó lấy sách R.1450-1453 làm bản chính, bởi văn bản này sử dụng bộ ván có niên đại sớm hơn.

7 Được ghi ở bài tựa Hà Thiện Hán (viết về nguyên tác Hán văn TKML). 8 Hiện nay ở Việt Nam, các văn bản TKML khắc in đều thuộc hệ Tân biên từ các bộ ván năm 1763, và 1774. Các văn bản thuộc bộ khác đang được lưu giữ ở nước ngoài, như Pháp, Trung Quốc và đặc biệt là ở Nhật Bản [4:18], [94:27-47].109 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; R.1450-1453 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; VNv.704-707 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774; VHv.1491 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774; và HN 257 - 258 ở Viện Văn học thuộc bộ ván năm 1774. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kawamoto [94] in toàn bộ TBTKML với chữ in hiện đại.10 Trong luận án này, tác giả lấy bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính với cùng một lý do như Nguyễn Quang Hồng nói trên, phần phiên âm chữ Nôm cũng chủ yếu dựa vào công trình của Nguyễn Quang Hồng [20].

Bản dịch tiếng Việt hiện đại được Nguyễn Nam [37] thu thập và thảo luận. Bản dịch từ Hán văn ra tiếng Việt hiện đại (chữ Quốc ngữ) đầy đủ nhất và sớm nhất là của Trúc Khê Ngô Văn Triện in lần đầu năm 1947, được tập hợp và in lại năm 2011, bao gồm cả bản dịch tiếng Pháp và tiếng Việt hiện đại [51]. Trong luận án, chúng tôi chủ yếu tham khảo bản dịch này để dẫn các câu dịch tiếng Việt hiện đại (dịch từ phần Hán văn) trong tư thế đối chiếu với tiếng Việt văn Nôm thời xưa. Một số nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học 1.

Lý thuyết về hư từ và nghiên cứu về hư từ văn Nôm trong TBTKML 1. Một số lý thuyết về hư từ Trong những nghiên cứu về hư từ trong tiếng Việt nói chung, tiêu biểu nhất là hai công trình của Nguyễn Anh Quế và Hoàng Trọng Phiến. Nguyễn Anh Quế [52] đã nghiên cứu, khảo sát toàn bộ hệ thống hư từ trong tiếng Việt hiện đại từ hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp. Hoàng Trọng Phiến [50] đã công bố cuốn từ điển giải thích hư từ tiếng Việt hiện đại.

Theo Hoàng Trọng Phiến [50: tr. 5-6], thực từ (notion words) có nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp, làm các thành phần cấu tạo nên câu; trong khi hư từ (function words; empty words; grammatical words; syntactic words) chỉ lấy việc biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp làm chính, không độc lập làm thành 10 Văn bản gốc của Quyển I và II (thuộc sở hữu cá nhân ở Nhật Bản) nằm trong bộ ván năm 1714; văn bản gốc của Quyển III và IV thuộc bộ ván năm 1774, đồng thời luận án có tham khảo thêm các bản thuộc bộ ván năm 1763. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phần câu, không làm trung tâm cụm từ, ngữ đoạn. Tác giả cũng cho rằng hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ.

Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ được chuyển từ thực từ mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ, các từ chỉ không gian, thời gian, sở hữu, ví dụ: thật, không, bằng, về, với, của, nếu, giá, cho, để, đặng, trên, trước v. Theo cách phân loại của Hoàng Trọng Phiến [50: tr. 19], hư từ bao gồm: đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, phó từ, thán từ, trợ từ, và tiểu từ. Đại từ chỉ có một mục là bao giờ.

Động từ tình thái bao gồm các từ cần, phải, bị, đáng v. Vũ Đức Nghiệu [43: tr. 278] cho biết cách hiểu thường gặp về hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ, hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu. Theo tác giả, những tiêu chí phổ biến của hư từ là: (a) không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt; (b) không có chức năng định danh; (c) làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ (nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ pháp).

Trong một công trình khác về ngôn ngữ trên thế giới nói chung [41: tr. 308-309], Vũ Đức Nghiệu phân chia các từ thành 3 loại: thực từ (danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, đại từ, số từ); hư từ (giới từ, liên từ, mạo từ); và thán từ. Nghiên cứu về hư từ tương đối sôi nổi, nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán hay tiếng Việt. Lý do có thể là vì trong ngôn ngữ đơn lập, chức năng ngữ pháp được biểu đạt chỉ bằng trật tự từ và hư từ, trong khi ngôn ngữ hòa kết và ngôn ngữ chắp dính có thể biểu đạt chức năng ngữ pháp bằng sự biến đổi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thái hay phụ tố [Vũ Đức Nghiệu 41: tr.

Lý thuyết về “từ” trong tiếng Việt theo Nguyễn Thiện Giáp [18: tr. 128-129, 136] cho rằng hư từ có một kiểu “nghĩa” nhưng không có chức năng định danh và không có tính độc lập về nghĩa và cú pháp. Các hư từ phải đi kèm theo các tiếng khác, để hiện thực hóa được ý nghĩa của mình và biểu thị các đối tượng trong ngôn ngữ. Thảo luận về cách phân loại các hư từ tiếng Việt, Diệp Quang Ban [1: tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ