Chương 1 của luận án sẽ lần lượt giải quyết các vấn đề: 1 - giới thiệu tác phẩm TBTKML, 2 - một số lý thuyết về hư từ, 3 - nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học. Hư từ luôn có vai trò quan trọng trong những ngôn ngữ đơn lập, nghiên cứu hư từ đã thu hút nhiều quan tâm của giới nghiên cứu xưa nay. Trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sẽ xác định những vấn đề phải giải quyết trong luận án này. Khi nói về phiên dịch học, các nhà nghiên cứu đi trước đã rất chú trọng tập trung thảo luận về phương pháp phiên dịch giữa “dịch chữ” và “dịch nghĩa”, đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến TBTKML.
Dựa trên những nghiên cứu phiên dịch học hiện nay, tác giả luận án đề ra khung lý thuyết chủ yếu trong luận án, đó là quan điểm coi phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ, bên cạnh mặt hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ngoài ra, phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu cũng được giới thiệu để làm rõ phương pháp nghiên cứu luận án này áp dụng. Từ đây, tác giả luận án cũng xác 3 Tác phẩm này còn được gọi tắt là Truyền kỳ mạn lục giải âm. “Giải âm” có khi được dùng với tư cách là thuật ngữ chỉ phần văn dịch Nôm, và cũng là một phần của tên tác phẩm.
Luận án này phân tích cả 2 phần Hán văn và phần văn dịch Nôm, nên chúng tôi gọi tắt là TBTKML, để tránh sự hiểu nhầm rằng luận án chỉ phân tích phần văn dịch Nôm thôi. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định tiêu chí về hư từ và định nghĩa của mỗi tiểu loại thuộc hư từ. Tác phẩm song ngữ Hán Nôm Tân biên Truyền kỳ mạn lục 1. Vấn đề tác giả và niên đại Truyền kỳ mạn lục (từ đây viết tắt là TKML) là một tác phẩm Hán văn của Nguyễn Dữ (阮嶼)4, phỏng đoán được sáng tác vào thế kỷ XVI.
TBTKML là tác phẩm song ngữ, được kết cấu bởi 2 phần: phần Hán văn Truyền kỳ mạn lục; và phần văn dịch Nôm tương truyền do Nguyễn Thế Nghi chuyển dịch. Tác phẩm này gồm 20 truyện (4 quyển, mỗi quyển 5 truyện), thường được coi là đã chịu ảnh hưởng từ Tiễn đăng tân thoại (剪燈新話) của tác giả Trung Hoa là Cù Hựu (瞿佑), tức là Cù Tông Cát (瞿宗吉, 1347-1433) [Nguyễn Quang Hồng 20: tr. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu của Kawamoto [94: tr. 15-25], TKML được cho là có nhiều điểm chung với Tiễn đăng tân thoại nhưng chí hướng và tư tưởng lại khác với Tiễn đăng tân thoại.
Kawamoto cũng cho rằng có thể Nguyễn Dữ đã viết lại Tiễn đăng tân thoại theo kiểu Việt Nam, để “sáng tác” một bộ sách truyền kỳ có đề tài văn hóa, nhân vật, thiên nhiên và thời đại của nước Việt. Nhiều ý kiến nhận định người dịch Nôm là Nguyễn Thế Nghi (阮世儀)6. 4 Không rõ sinh và mất năm nào. Có nhiều khả năng sinh ra vào cuối thế kỷ XV và sống chủ yếu vào nửa đầu thế kỷ XVI.
Nguyễn Dữ đỗ thi Hội, được bổ làm quan, nhưng một năm sau xin về quê để phụng dưỡng mẹ già. Trong thời gian này Nguyễn Dữ đã sáng tác TKML. 9-10] 5 “Il imite en gros le recueil du Tsien teng 剪燈 du lettré yuan.” 6 Dựa vào thông tin trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề và Trần Quý Nha (Trần Trợ). Nguyễn Quang Hồng [20: tr.
12] quan niệm chưa đủ bằng chứng xác thực để khẳng định hay phủ định Nguyễn Thế Nghi có phải là tác giả của bản giải âm của TBTKML hay không, nhưng việc coi Nguyễn Thế Nghi là dịch giả vẫn tạm chấp nhận được, vì Nguyễn Thế Nghi có bản lĩnh văn chương quốc âm đã được ghi nhận trong Công dư tiệp ký. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về niên đại tác phẩm, có thể phỏng đoán rằng TKML bản Hán văn ra đời muộn nhất ở năm Vĩnh Định nguyên niên (1547).7 Thêm nữa, bởi Nguyễn Thế Nghi sống đến cuối đời Mạc (-1595), nên cũng có thể đưa ra giả định rằng phần giải âm trong TBTKML hoàn thành vào cuối thế kỷ XVI [Hoàng Thị Hồng Cẩm 4: tr. Vấn đề văn bản Có 5 bộ ván in cơ bản của TKML của các năm 1712 (chỉ gồm chữ Hán), 1714, 1737, 1763, và 1774 [Kawamoto 94: tr. 27, Nguyễn Quang Hồng 20, tr.8 Trong số 5 văn bản ở Việt Nam9 [20: tr.
15-18], phiên âm của Nguyễn Quang Hồng [20] lấy bản sách mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính để thực hiện, vì bản này là “bản sách có chất lượng tốt nhất về mặt văn bản, nó phản ảnh trung thành nhất bản khắc vốn có” [20: tr. Toàn văn bản sách này được in đính kèm trong ấn phẩm của Nguyễn Quang Hồng. Các bản khác được dùng để tham khảo, đối chiếu với bản HN 257 và HN258, khi cần thiết. Hoàng Thị Hồng Cẩm [4] lại cho biết chi tiết về các chữ khác nhau ghi trong từng văn bản, từ đó lấy sách R.1450-1453 làm bản chính, bởi văn bản này sử dụng bộ ván có niên đại sớm hơn.
7 Được ghi ở bài tựa Hà Thiện Hán (viết về nguyên tác Hán văn TKML). 8 Hiện nay ở Việt Nam, các văn bản TKML khắc in đều thuộc hệ Tân biên từ các bộ ván năm 1763, và 1774. Các văn bản thuộc bộ khác đang được lưu giữ ở nước ngoài, như Pháp, Trung Quốc và đặc biệt là ở Nhật Bản [4:18], [94:27-47].109 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; R.1450-1453 ở Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ ván năm 1763; VNv.704-707 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774; VHv.1491 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc bộ ván năm 1774; và HN 257 - 258 ở Viện Văn học thuộc bộ ván năm 1774. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kawamoto [94] in toàn bộ TBTKML với chữ in hiện đại.10 Trong luận án này, tác giả lấy bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 làm bản chính với cùng một lý do như Nguyễn Quang Hồng nói trên, phần phiên âm chữ Nôm cũng chủ yếu dựa vào công trình của Nguyễn Quang Hồng [20].
Bản dịch tiếng Việt hiện đại được Nguyễn Nam [37] thu thập và thảo luận. Bản dịch từ Hán văn ra tiếng Việt hiện đại (chữ Quốc ngữ) đầy đủ nhất và sớm nhất là của Trúc Khê Ngô Văn Triện in lần đầu năm 1947, được tập hợp và in lại năm 2011, bao gồm cả bản dịch tiếng Pháp và tiếng Việt hiện đại [51]. Trong luận án, chúng tôi chủ yếu tham khảo bản dịch này để dẫn các câu dịch tiếng Việt hiện đại (dịch từ phần Hán văn) trong tư thế đối chiếu với tiếng Việt văn Nôm thời xưa. Một số nghiên cứu về hư từ và phiên dịch học 1.
Lý thuyết về hư từ và nghiên cứu về hư từ văn Nôm trong TBTKML 1. Một số lý thuyết về hư từ Trong những nghiên cứu về hư từ trong tiếng Việt nói chung, tiêu biểu nhất là hai công trình của Nguyễn Anh Quế và Hoàng Trọng Phiến. Nguyễn Anh Quế [52] đã nghiên cứu, khảo sát toàn bộ hệ thống hư từ trong tiếng Việt hiện đại từ hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp. Hoàng Trọng Phiến [50] đã công bố cuốn từ điển giải thích hư từ tiếng Việt hiện đại.
Theo Hoàng Trọng Phiến [50: tr. 5-6], thực từ (notion words) có nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp, làm các thành phần cấu tạo nên câu; trong khi hư từ (function words; empty words; grammatical words; syntactic words) chỉ lấy việc biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp làm chính, không độc lập làm thành 10 Văn bản gốc của Quyển I và II (thuộc sở hữu cá nhân ở Nhật Bản) nằm trong bộ ván năm 1714; văn bản gốc của Quyển III và IV thuộc bộ ván năm 1774, đồng thời luận án có tham khảo thêm các bản thuộc bộ ván năm 1763. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phần câu, không làm trung tâm cụm từ, ngữ đoạn. Tác giả cũng cho rằng hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ.
Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ được chuyển từ thực từ mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ, các từ chỉ không gian, thời gian, sở hữu, ví dụ: thật, không, bằng, về, với, của, nếu, giá, cho, để, đặng, trên, trước v. Theo cách phân loại của Hoàng Trọng Phiến [50: tr. 19], hư từ bao gồm: đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, phó từ, thán từ, trợ từ, và tiểu từ. Đại từ chỉ có một mục là bao giờ.
Động từ tình thái bao gồm các từ cần, phải, bị, đáng v. Vũ Đức Nghiệu [43: tr. 278] cho biết cách hiểu thường gặp về hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ, hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu. Theo tác giả, những tiêu chí phổ biến của hư từ là: (a) không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt; (b) không có chức năng định danh; (c) làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ (nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ pháp).
Trong một công trình khác về ngôn ngữ trên thế giới nói chung [41: tr. 308-309], Vũ Đức Nghiệu phân chia các từ thành 3 loại: thực từ (danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, đại từ, số từ); hư từ (giới từ, liên từ, mạo từ); và thán từ. Nghiên cứu về hư từ tương đối sôi nổi, nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán hay tiếng Việt. Lý do có thể là vì trong ngôn ngữ đơn lập, chức năng ngữ pháp được biểu đạt chỉ bằng trật tự từ và hư từ, trong khi ngôn ngữ hòa kết và ngôn ngữ chắp dính có thể biểu đạt chức năng ngữ pháp bằng sự biến đổi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thái hay phụ tố [Vũ Đức Nghiệu 41: tr.
Lý thuyết về “từ” trong tiếng Việt theo Nguyễn Thiện Giáp [18: tr. 128-129, 136] cho rằng hư từ có một kiểu “nghĩa” nhưng không có chức năng định danh và không có tính độc lập về nghĩa và cú pháp. Các hư từ phải đi kèm theo các tiếng khác, để hiện thực hóa được ý nghĩa của mình và biểu thị các đối tượng trong ngôn ngữ. Thảo luận về cách phân loại các hư từ tiếng Việt, Diệp Quang Ban [1: tr.