Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những nét khái quá về tác giả, tác phẩm của Nam Cao. Tác giả Nam Cao. Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (có nguồn ghi là Trần Hữu Trí), sinh năm 1915, nhưng theo giấy khai sinh ghi thì là ngày 29 tháng 10 năm 1917.
Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lí Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam). Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao. Ông xuất thân từ một gia đình Công giáo bậc trung. Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, làm nghề thợ mộc và thầy lang trong làng.
Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, vừa là nội trợ, làm vườn, làm ruộng và dệt vải. Thuở nhỏ, ông học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong- Nam Định). Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung, ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi.
Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này. Bị địch khủng bố gắt gao, ông phải lánh về quê. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở địa phương.
Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc. Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên. 13 Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ. Trên đường đi công tác, ông bị quân Pháp phục kích và bắn chết vào ngày 28 tháng 11 năm 1951 (30 tháng Mười âm lịch), tại Hoàng Đan (Ninh Bình).
Tác phẩm của Nam Cao. Cuộc đời của nhà văn Nam Cao khá ngắn ngủi nhưng tác giả cũng để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ đa dạng về thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn,. Các đề tài sáng tác của ông được chia thành hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đề tài trước Cách mạng tháng Tám tập trung vào người nông dân nghèo và tầng lớp trí thức bị tha hóa, phản ánh lên một xã hội xô bồ bóp nghẹt đi sức sống của con người.
Giai đoạn sau các tác phẩm của ông đã có sự thay đổi trong quan điểm nghệ thuật, ông đi tìm hướng đi mới cho các nhân vật. Các tác phẩm của ông: a. Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật. Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956)[3], ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn Nghệ.
Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt. Ba người bạn Bảy bông lúa lép Bài học quét nhà (1943) Cái chết của con Mực 14 Cái mặt không chơi được Những chuyện không muốn Chuyện buồn giữa đêm vui viết Cười Những trẻ khốn nạn Con mèo Nghèo (1937) Con mèo mắt ngọc Nụ cười Chí Phèo (1941) Nước mắt Đầu đường xó chợ Nửa đêm Điếu văn Phiêu lưu Đôi mắt (1948) Quái dị Đôi móng giò Quên điều độ Đời thừa (1943) Anh tẻ Đòn chồng Rửa hờn Đón khách Sao lại thế này? Đui mù Thôi về đi Nhỏ nhen Giăng sáng (1942) Làm tổ Trẻ con không được ăn thịt Lang Rận chó (1942) Lão Hạc (1943) Truyện biên giới Mong mưa Truyện tình Một truyện xu-vơ-nia Tư cách mõ (1943) Một đám cưới (1944) Từ ngày mẹ chết Mua danh Xem bói Mua nhà Dì Hảo (1941) Một bữa no (1943) Nỗi truân chuyên của khách Người thợ rèn má hồng (1946) Nhìn người ta sung sướng Mò Sâm Banh (1945) Truyện người hàng xóm 15 Rình trộm Làm tổ 16 Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (1969), Địa dư Việt Nam (1951). Những cơ sở lý thuyết về truyện ngắn. Lý thuyết về truyện ngắn đã được nghiên cứu ở Phương Tây ngay từ những năm đầu thế kỉ XIX.
Qua hai thế kỉ các nhà lý thuyết về truyện ngắn vẫn bị dao động giữa hai câu hỏi: Truyện ngắn được viết ra như thế nào và những đặc tính thật sự của truyện ngắn là gì? Trung Quốc và Nhật Bản, người ta vẫn coi truyện ngắn thuộc thể loại tiểu thuyết, được gọi là "tiểu thuyết đoản thiên" để phân biệt với loại tiểu thuyết chương hồi dài tập hay "tiểu thuyết trường thiên". Người Việt nam ngày nay dùng từ truyện ngắn để chỉ "tiểu thuyết đoản thiên" và tiểu thuyết để chỉ "tiểu thuyết trường thiên". Việc lí giả khái niệm truyện ngắn cũng có nhiều ý kiến khác nhau: Nhà văn Nga A.Tônxtôi cho rằng: “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất. Trong truyện ngắn tất cả như trong bàn tay anh.
Anh phải thông minh như anh đã hiểu biết bởi lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao, anh phải biết nói một cách ngắn gọn như là thơ chỉ được làm thơ tứ tuyệt. Nhưng ngắn gọn ở đây là ngắn gọn tập trung tài liệu, lựa chọn những gì cần biết”. Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn.
Truyện ngắn viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”. 17 Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội. Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp nhịp vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Truyện ngắn là một thể loại văn học.
Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó. Ví dụ: Truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao,… Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định. Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống.
Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống. Ví dụ: Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam tình huống truyện chỉ xoay quanh hai nhân vật Liên và An trong một buổi chiều tàn nơi phố huyện. Một vài đặc điểm của truyện ngắn.
Dựa vào các ý kiến cũng như phần định nghĩa đã nêu ta có thể rút ra một số đặc điểm của truyện ngắn: 1. Xét về nội dung: Truyện phản ánh đời sống, thể hiện tâm tư tình cảm qua lời kể của người kể chuyện. Đây là một trong những yếu tố khá quan trọng và đánh dấu sự khác biệt của truyện ngắn với các thể loại khác. Truyện ngắn dùng lời kể 18 để giới thiệu thời gian, không gian, cốt truyện, nhân vật… mặc dù không có sự xuất hiện trực tiếp của tác giả nhưng người đọc vẫn cảm nhận thấy có một ai đó đang chứng kiến và kể lại câu chuyện đó, rồi dẫn dắt theo một điểm nhìn, một cách cảm nhận đánh giá nhất định.
Cốt truyện là phần hấp dẫn, lôi cuốn của các tác phẩm truyện. Trên thực tế, rất ít các cốt truyện có xu thế giống nhau, nhung điểm chung là nó là hàng loạt các sự kiện các chi tiết các biến cố được xâu chuỗi lại với nhau, cái này bổ trợ cho cái kia và khi giải quyết hết thì dừng lại. Có cốt truyện được tác giả xây dựng kịch tính, cao trào nhưng cũng có cốt truyện lại đi theo một hướng khác, nhưng chung quy lại nó là yếu tố quyết định để dẫn đến sự thành công của một truyện ngắn. Truyện có khả năng miêu tả nhân vật một cách đầy đặn nhiều mặt.
Mỗi tác phẩm đều giới thiệu có thể một phần hay toàn bộ cuộc đời của nhân vật thông qua việc tác giả dựng nên mối quan hệ xung quanh nhân vật, hay hoàn cảnh của nhân vật đó. Về hình thức: Ngắn gọn là một trong những yếu tố quy định về hình thức của thể loại nàyvì là một thể loại tự sự cỡ nhỏ. Truyện ngắn không đi sâu vào phân tích nhiều mặt của cuộc sống, mà chỉ phân tích vào một yếu tố nhất định, để rồi từ đó lấy ra khuôn mẫu chung, cái nhìn chung cho nhiều mảng lớn của xã hội. Chi tiết trong truyện ngắn đóng vai trò quyết định sự thành bại của truyện ngắn.
Nó được tác giả chọn lọc rất kĩ lưỡng và như để đánh dấu một bước ngoặt trong cốt truyện, hoặc để lại một ẩn ý gì đấy của tác giả cho người đọc tự tìm hiểu. 19 Sức nén của truyện ngắn thường rất lớn, vì với dung lượng vài chục trang giấy, mà nó mang một trọng trách lớn để dựng lên một biến cố lịch sử rất dài, hay cả một cuộc đời nhân vật… Bút pháp trong truyện ngắn thường rất độc đáo, tùy vào phong cách sáng tác của mỗi tác giả, mỗi truyện ngắn sẽ có sự khác biệt rõ ràng một ý đồ sáng tác của tác giả. Những vấn đề lý thuyết về đoạn văn 1. Khái niệm Về phương diện lí thuyết, chung quanh khái niệm đoạn văn có những vấn đề bàn cãi và chưa có được sự thống nhất về ý kiến.
Thông thường, mỗi nhà nghiên cứu tự xác định một nội dung về nó để làm việc. Chẳng hạn, như cái dấu hiệu viết hoa lùi đầu dòng được coi là khá hiển nhiên đối với khá nhiều người. Trần Ngọc Thêm cho rằng: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và mang một nội dung nhất định được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức: ở dạng nói, nó có kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt dài; ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn. Giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nxb GD.
1997) quan niệm: “Đoạn văn là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề.