mở đầu”. Có nhiều báo cáo nghiên cứu về quá trình ĐTH và mạng lưới đô thị Việt Nam, đáng chú ý là “Đánh giá đô thị ở Việt Nam” của Ngân hàng thế giới WB (11/2011). Báo cáo đã phân tích về quá trình phát triển của hệ thống đô thị ở Việt Nam theo 5 chuyên đề: hành chính, dân số, kinh tế, không gian và đời sống; mở rộng và phát triển không gian ở các đô thị Việt Nam, các dịch vụ đô thị cơ bản [27]. Một số hội thảo về vấn đề đô thị và quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam như Hội thảo khoa học “Đô thị Việt Nam - Quy hoạch và phát triển đô thị bền vững” vào 7/11/2009.
Một số luận án Tiến sĩ và luận văn thạc sĩ Địa lý nghiên cứu về ĐTH như: Luận án Tiến sĩ “Phân tích quá trình đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 1985 - 2007” của Bùi Thị Chuyên (2010),“Nghiên cứu quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển KT-XH thành phố Cần Thơ” của Phạm Đỗ Văn Trung (2014), “Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015” của Ngô Thị Hải Yến (2017); các luận văn thạc sĩ: “Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến môi trường đô thị ở thành phố Vinh” của Trần Thị Ngân Hà (2006), “Quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc trong quá trình công nghiệp hóa” của Nguyễn Thị Duyên (2011),“Đô thị hóa tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2002 - 2013” của Nguyễn Thị Minh Thu (2014). Dưới góc độ quản lí, hàng loạt các quy hoạch phát triển mạng lưới đô thị và các nghị định của chính phủ về phân cấp, quản lí phát triển đô thị như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 tại Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg xác định phương hướng xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn toàn quốc và các vùng đặc trưng, là cơ sở cho sự phát triển đô thị ở các cấp ở nước ta cho tới nay. Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 - 2020”. Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày25/5/2016 về phân loại đô thị [31].
Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13 về tiêu chuẩn của đơn 9 vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính [32]. Ngày 24/02/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg “Phê duyệt Kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021-2030”[39]. Đây là những cơ sở pháp quy để lựa chọn định hướng và những giải pháp cho sự phát triển của các đô thị của cả nước, Thanh Hóa nói chung và TX Bỉm Sơn nói riêng. Những nghiên cứu về ĐTH TX Bỉm Sơn Các nghiên cứu về quá trình ĐTH của TX Bỉm Sơn còn khá mới mẻ bởi quá trình ĐTH của TX Bỉm Sơn mới chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây.
Sự phát triển đô thị Bỉm Sơn được thể hiện qua một số công trình: “Địa chí Thanh Hóa” các tập I (2001), tập II (2004) và tập III (2008) của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Thanh Hóa [43]. Các nghiên cứu về ĐTH TX Bỉm Sơn cũng thể hiện trong các văn bản pháp quy như Quyết định Số 3975/QĐ-UBND ngày 18/11/2014 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 1252/QĐ- UBND ngày 18/4/2016 của UBND tỉnh Thanh Hóa Phê duyệt “Chương trình phát triển đô thị tỉnh Thanh Hóa giai đoạn đến năm 2020 và giai đoạn 2021 - 2030”; Quyết định số 1026/QĐ-TTg ngày 08/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Nhiệm vụ "Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065";… là những văn bản pháp quy liên quan đến việc lựa chọn định hướng và các giải pháp phát triển Bỉm Sơn. Lê Duy Hiếu (2015), trong Luận văn Thạc sĩ: Ứng dụng GIS nghiên cứu ô nhiễm bụi ở thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa [18] đã ứng dụng GIS trong quản lý ô nhiễm bụi tại TX Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Qua đó, kết luận được mức độ ô nhiễm tại các khu vực nghiên cứu.
Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm bụi cho TX Bỉm Sơn. Nguyễn Phúc Hưng (2016) trong Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu hiện trạng môi trường khu dân cư xung quanh khu Công nghiệp Bỉm Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa [19]. Hai đề tài trên là nguồn tài liệu quan trọng để đề tài này tham khảo các tiêu chí về môi trường TX Bỉm Sơn. 10 Năm 2020, Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Bỉm Sơn đã xuất bản sách Địa chí Bỉm Sơn[36].
Công trình này đã tổng hợp một khối lượng khổng lồ các tư liệu về thiên nhiên, con người, văn hóa, xã hội, kinh tế của TX Bỉm Sơn qua các thời kỳ. Đây là nguồn tư liệu quý để chúng tôi tham khảo. Năm 2022, Lê Công Hợp và Lê Văn Trưởng đã công bố kết quả Nghiên cứu Đánh giá quá trình đô thị hóa ở TX Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa[22]. Trong nghiên cứu này đã chọn 20 tiêu chí để đánh giá quá trình ĐTH ở TX Bỉm Sơn giai đoạn 2010-2020 và kết quả của công trình là nội dung quan trọng của Luận văn này.
Nhìn chung nghiên cứu về ĐTH ở TX Bỉm Sơn còn mỏng và đặc biệt là thiếu những công trình phân tích ĐTH theo quan điểm của Địa lí học. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần khắc phục lỗ hổng ấy. Cơ sở lý luận về đô thị hóa 1.Khái niệm Cho đến nay có rất nhiều quan niệm về đô thị Theo Ratzel (1960), đô thị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ở của họ, chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn với số dân từ 2000 người trở lên 29. Năm 1968, theo Richtofen “Đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống trước hết dựa vào công nghiệp”, ông cũng cho rằng “người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp”29].Xauskin lại quan niệm: “Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp”8].
Nhìn chung, dù có những điểm khác biệt, nhưng các tác giả đã đưa ra được những nét nổi bật nhất của đô thị, đó là tập trung dân cư với mật độ cao và sản xuất mang tính phi nông nghiệp. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đưa ra những khái niệm về đô thị: 11 - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp61. - Phạm Ngọc Côn trong cuốn “Kinh tế học đô thị” đã xem xét và đưa ra khái niệm đô thị dưới hai góc độ, thứ nhất: “Đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định”; thứ hai: Đứng trên quan điểm dân cư đô thị thì ông cho rằng “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện”9. - Phạm Trọng Mạnh trong cuốn “Quản lí đô thị” coi: “Đô thị là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4.000 người (đối với miền núi là 2.000 người) với tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65%” [25].
Các cơ quan quản lí nhà nước cũng đưa ra các khái niệm và tiêu chuẩn về đô thị. Những tiêu chuẩn này được có sự thay đổi theo thời gian, phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước ở từng giai đoạn cụ thể: - Quyết định số 132/HĐBT ngày 05/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ), quy định đô thị là các điểm dân cư với các yếu tố cơ bản sau: + Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của đô thị gồm nội thành hoặc nội thị với đơn vị hành chính là quận, phường và ngoại thị với đơn vị hành chính là huyện, xã. + Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.
+ Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên; là nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. 12 + Cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị được xác định dựa trên mức độ tối thiểu của từng đô thị như: mật độ đường phố, chỉ tiêu cấp nước, chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt, chỉ tiêu nhà ở. + Mật độ dân cư được xác định theo từng đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng được xác định bởi dân số nội thành, nội thị trên diện tích đất đai nội thành, nội thị (người/km2 hay người/ha). - Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ xây dựng và Ban tổ chức cán bộ của chính phủ đã quy định: “Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh hoặc huyện”.
- Thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về phân loại đô thị đã ghi: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”[4].