MỞ ĐẦU Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính nguy hiểm do muỗi Aedes truyền, ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, phổ biến ở khu vực đô thị, bán đô thị và nhiều vùng nông thôn. Hiện nay bệnh SXHD đang là vấn đề y tế công cộng rất lớn trên toàn cầu và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh do véc tơ truyền quan trọng nhất [1]. Tỷ lệ người mắc sốt xuất huyết đã tăng lên đáng kể trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây. Số lượng các trường hợp sốt xuất huyết thực tế chưa được báo cáo đầy đủ và nhiều trường hợp được chẩn đoán nhầm lẫn với một số bệnh khác.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 390 triệu trường hợp bệnh SXHD mỗi năm, trong đó có khoảng 96 triệu trường hợp có biểu hiện lâm sàng. Có khoảng 3,9 tỷ người ở 128 quốc gia có nguy cơ bị nhiễm vi rút Dengue. Trước năm 1970, chỉ có 9 nước đã trải qua dịch bệnh SXHD nghiêm trọng, nhưng hiện nay đang lưu hành tại hơn 100 quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Các khu vực Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
Ước tính có khoảng 500.000 người mắc bệnh sốt xuất huyết nặng cần nhập viện mỗi năm, và khoảng 2,5% những người bị bệnh tử vong [2] [3]. Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự phát triển của muỗi Aedes, cho nên SXHD hiện cũng đang là một trong các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất. Dịch bệnh được ghi nhận ở cả 4 khu vực địa lý là miền Nam, miền Trung, miền Bắc và Tây Nguyên [4]. Theo ước tính, khoảng 70 triệu người Việt Nam nằm trong vùng có dịch SXHD lưu hành và có nguy cơ bị mắc bệnh.
Mặc dù Chương trình phòng chống SXHD quốc gia được thiết lập từ năm 1999 hoạt động rất hiệu quả, số mắc và tử vong có giảm được một thời gian nhưng không ổn định và có xu hướng mở rộng phạm vi, số mắc trung bình hàng năm vẫn luôn ở mức rất cao khoảng 70.000 trường hợp với hàng trăm trường hợp tử vong [5], hơn nữa dịch lớn thỉnh thoảng bùng phát gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội của nhân dân. Đặc biệt trong trong 9 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 67.414 trường hợp mắc tại 62/63 tỉnh, thành phố, 2 trong đó có 11 trường hợp tử vong (Cục Y tế dự phòng) [6]. Bệnh sốt xuất huyết chủ yếu phát hiện tại các thành phố, khu vực dân cư đông đúc. Trên thế giới có khoảng 950 loài muỗi thuộc giống Aedes, trong đó muỗi Aedes aegypti là loài truyền bệnh nguy hiểm nhất.
Chúng là véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, Chikungunya, sốt vàng da và một số bệnh khác. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 2 loài muỗi truyền bệnh SXHD là Ae. aegypti và Ae. albopictus, trong đó Ae.
aegypti được coi là là véc tơ chính, còn Ae. albopictus được coi là véc tơ phụ [7] [8] [9]. Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về hai loài muỗi này trong những năm trước đây và ghi nhận sự có mặt cả hai loài muỗi, tuy nhiên việc phân bố của chúng thay đổi theo thời gian, theo vùng miền và theo sinh cảnh khác nhau [10]. Bên cạnh đó vai trò truyền bệnh thực sự của 2 loài muỗi này tại các ổ dịch đang hoạt động, đặc biệt là muỗi Ae.
albopictus đã được nghiên cứu nhưng chưa thực sự đầy đủ [11]. Việc phòng chống SXHD trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng là vô cùng khó khăn vì chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin đang trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng. Do vậy, biện pháp phòng chống chủ yếu và có hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc tơ truyền bệnh. Các quần thể muỗi Ae.
aegypti và Ae. albopictus có các đặc điểm sinh học, đôi khi thay đổi nên việc nghiên cứu sâu về các đặc điểm của chúng sẽ là cơ sở để áp dụng các biện pháp phòng chống. Mặt khác, nghiên cứu vai trò truyền bệnh SXHD của muỗi tại thực địa là rất cần thiết, góp phần quan trọng giúp cho các nhà quản lý cũng như các nhà chuyên môn trong định hướng, lập kế hoạch cũng như đề ra các chiến lược phù hợp, hiệu quả cho công tác phòng chống dịch bệnh SXHD [12] [13] [14]. Hà Nội là một trong những tỉnh thành trong những năm gần đây liên tục ghi nhận dịch bệnh với số mắc cao và được xác định là vùng trọng điểm nhất về sốt xuất huyết Dengue của khu vực miền Bắc.
Ngoài ra đây cũng là những địa phương có tốc độ đô thị hóa rất nhanh chóng, làm môi trường thay đổi mạnh theo hướng thuận lợi cho muỗi phát triển. Ngoài việc nghiên cứu tại thực địa về phân bố, đặc điểm sinh thái học, độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài muỗi này trong phòng thí nghiệm có vai trò quan trọng như chu trình sống, thời gian sống, tập tính hoạt động đốt mồi, làm cơ sở xây dựng quy trình nuôi giữ muỗi Aedes aegypti phục vụ cho các nghiên cứu về sinh thái học, di 3 truyền tế bào, đánh giá hiệu lực của hóa chất diệt côn trùng cũng như hiệu lực của các chế phẩm sinh học diệt bọ gậy. Do vậy, vấn đề được đặt ra cho nghiên cứu, hay chính là việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Đặc điểm sinh thái và vai trò truyền bệnh của muỗi Ae. aegypti và Ae.
albopictus tại đây hiện nay như thế nào là rất quan trọng trong việc đề ra các chiến lược giám sát và khống chế các ổ dịch SXHD một cách hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021”. Với các mục tiêu: 1. Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại phòng thí nghiệm.
Xác định độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại các điểm nghiên cứu bằng phương pháp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (USCDC). 4 NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Muỗi Aedes trong hệ thống phân loại Dodge (1962) theo quan điểm của Stone, A., Knight và Starke (1959) đã chia họ muỗi là 3 phân họ: Culicinae, Anophelinae và Toxorhynchitae.
Họ phụ Anophelinae có 3 giống: Giống Chagasia phân bố ở vùng Tân nhiệt đới, Giống Bironalla phân bố ở vùng châu Úc, Giống Anopheles có thành phần loài lớn nhất, phân bố ở tất cả các vùng địa động vật trên thế giới và có nhiều loài có ý nghĩa dịch tễ quan trọng. Giống Anopheles bao gồm có 7 phân giống là: Anopheles, Baimaia, Cellia, Kerteszia, Lophopodomyia, Nyssorhynchus, Stethomyia. Ở vùng Đông Phương, giống Anopheles chỉ gồm các loài thuộc 2 phân giống: Anopheles và Cellia. Phân họ Toxorhynchitae chỉ có một giống duy nhất là Toxorhynchites.
Phân họ Culicinae có nhiều giống và có số loài lớn nhất, trong đó có nhiều giống có vai trò dịch tễ như: Aedes, Mansonia, Culex, Ochlerotatus… trong đó có giống Aedes và giống Culex phân bố toàn cầu. Theo Vũ Đức Hương (1997), Việt Nam có 27 loài thuộc giống Aedes, trong đó có 2 loài Ae. aegypti (Linnaeus), 1762 và Ae. Vị trí phân loại của muỗi Ae.
aegypti và Ae. albopictus như sau: Giới Động vật: Animalia. Ngành Chân khớp: Arthropoda. Lớp côn trùng: Insecta.
Bộ hai cánh: Diptera. Họ muỗi: Culicidae. Họ phụ: Culicinae. Giống: Aedes Meigen, 1818.
5 Loài: Aedes aegypti (Linnaeus), 1762, Aedes albopitus (Linnaeus), 1762. Một số đặc điểm hình thái học của muỗi Ae. aegypti và Ae. Hình thái ngoài của muỗi Ae.
aegypti - Trứng Ae. aegypti (Nguồn: Catherin, 2016) Trứng của muỗi Aedes aegypti có kích thước nhỏ dưới 1mm, dạng hình oval, lúc mới đẻ có màu trắng sau đó chuyển màu đen sẫm. Nhìn dưới kinh hiển vi, trứng muỗi Aedes aegypti giống như quả “thủy lôi” thon dần. Ở cực hơi to của quả trứng có lỗ trứng được bao bọc trong vòng globulin trong suốt.
Khi trứng bám trên thành ẩm hay trên giấy lọc thấm nước trứng có dạng con thuyền nhỏ, mặt trên phẳng còn mặt dưới cong. Bên ngoài trứng được phủ một lớp màng chorion màu trắng sữa. Có thể thấy màng này khi trứng được ngâm trong nước, còn khi khô màng này bám vào vỏ trứng làm cho mặt vỏ trứng gồ ghề. Khác với muỗi Anopheles, muỗi Culex, v.v…, trứng muỗi Aedes aegypti không có phao, không liên kết thành bè trôi nổi trên mặt nước mà thường từng các rời ra bám trên thành các dụng cụ chứa nước.
Đây là một trong những đặc điểm đặc trưng của giống. - Bọ gậy Đặc điểm bọ gậy Ae. aegypti có đốt bụng VIII không có tấm kitin. Các răng lược đốt bụng VIII xếp thành một hàng, có gai giữa và gai bên.
Siphon có chiều dài không quá 4 lần chiều rộng, không có hàng gai ở đỉnh. Các phần siphon không phân bố đến gần đỉnh, chùm lông siphon nằm ngoài khoảng lược siphon. Lông siphon không có dạng gai tù. Mặt lưng của ngực không có lông dạng gai.
Tấm yên không 6 có gai ở phía ngoài. Các lông đầu trên, dưới, lông trước anten và lông anten đơn. Trên anten có ít gai nhỏ hoặc trơn [15]. Bọ gậy Ae.
aegypti (Nguồn: Catherin, 2016) Bọ gậy Ae. aegypti có dạng hình trụ, thon dần và màu vàng sữa. Cơ thể chia làm ba phần: Đầu, ngực, bụng. Phần đầu có dạng hình cầu.
Trên đầu mang hệ thống lông và hệ thống phần phụ làm nhiệm vụ cảm giác và thu nhận thức ăn. Phía trước đầu có đôi chùm lông bàn chải. Lông bàn chải có dạng hình tơ hay hình lược. Hai bên đâu, về phía trước mang đôi râu (anten) trơn hay có những gai nhỏ li ti.
Ở giữa râu có lông râu đơn hay phân nhánh. Đỉnh râu có một vài lông cứng. Hai bên râu lùi về phía sau có đôi mắt kép lớn. Sau mắt kép là mắt đơn.
Phía trước, phần dưới đầu là phần phụ miệng có cấu tạo phức tạp, trong đó đáng chú ý là tấm ngọn môi dưới có dạng hình tam giác với số lượng đặc trưng cho loài. Phần ngực phát triển nhất, gồm ba đốt, ở mỗi đốt mang hệ thống lông vươn dài. Những lông ở mặt trên và mặt dưới ngắn hơn những lông ở hai bên sườn. Ở đốt ngực giữa và đốt ngực sau gốc kitin có mấu; còn ở trước gốc kitin không có mấu.