Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU KHỐI XƯƠNG MẶT Ở trước dưới xương sọ, khối xương mặt gồm hai phần: phần hàm dưới và phần hàm trên. Xương hàm dưới gắn với xương sọ bởi khớp thái dương hàm và là xương di động duy nhất. Xương hàm trên kết hợp với khối xương sọ tạo thành ổ mắt, hố mũi và vòm họng [21.
Lỗ dưới ổ mắt 14. Xương hàm trên 15. Xương hàm dưới 18. Xương thái dương 21.
Khối xương mặt [22.] Thực chất khối xương hàm mặt gồm: xương hàm trên, x ương gò má, xương khẩu cái, xương hàm dưới, xương lá mía. Giải phẫu xương hàm trên Theo Đỗ Xuân Hợp (1973) [6.], XHT là một xương cố định, mỏng, xốp, có nhiều mạch máu nuôi dưỡng nên khi gẫy XHT gây chảy máu nhiều nhưng lại nhanh liền. XHT chỉ có các cơ bám da mặt, cơ chân bướm trong bám ở hố chân bướm hàm và bám một phần vào lồi củ XHT. Thân XHT gồm bốn mặt - Mặt ổ mắt: mặt này có ống dưới ổ mắt để thần kinh hàm trên đi qua.
Ở phía trên mặt này phẳng, có rãnh dưới ổ mắt, rãnh này thông với ống dưới ổ mắt. - Mặt mũi: có rãnh lệ đi từ mắt xuống mũi, phía trước gần ngang với rãnh lệ có mào xoăn trên, phía sau rãnh lệ có lỗ xoang hàm thông với xoang hàm trên. Mặt này có một diện xương gồ ghề tiếp khớp với xương khẩu cái, ở giữa chỗ gồ ghề có một rãnh chạy từ trên xuống gọi là rãnh khẩu cái lớn. - Mặt trước: có lỗ dưới ổ mắt, là phần tận cùng của ống dưới ổ mắt, ở đó có dây thần kinh dưới ổ mắt chui ra.
Ngang với mức răng nanh có hố nanh, ở giữa là khuyết mũi, dưới khuyết mũi là gai mũi trước. - Mặt dưới thái dương: ở phía sau gọi là lồi củ XHT có 4- 5 lỗ để cho thần kinh huyệt răng sau đi qua, đó là lổ huyệt răng ở, phiá dưới mặt này có các ống huyệt răng. Các mỏm Mỏm trán: Chạy thẳng lên trên để tiếp khớp với xương trán, phía sau ngoài mỏm trán có mào lệ trước, phía trên có khuyết lệ, mặt trong mỏm trán có mào sàng. 5 Mỏm huyệt răng: Có những huyệt răng xếp thành hình cung gọi là cung huyệt răng.
Phía trước mỏm khẩu cái có lổ răng cửa. Mỏm khẩu cái: ở phía dưới mặt mũi, mỏm khẩu cái nối tiếp 2 bên qua đường giữa để tạo thành vòm miệng. Trước mỏm khẩu cái có ống răng cửa để động mạch khẩu cái trước và thần kinh bướm khẩu cái đi qua. Mỏm khẩu cái chia mặt mũi của XHT thành hai phần: phần ở trên là nền mũi, phần ở dưới là vòm miệng.
Phía trên sau gai mũi là mào mũi. Mỏm gò má: Hình tháp, ngăn cách mặt trước và mặt thái dương. Phía trên có một diện gồ ghề khớp với xương gò má. Các mặt trước và sau liên tục với mặt trước và dưới của hố thái dương.
Xoang hàm Xoang hàm trên có hình tháp gồm ba mặt, một nền, một đỉnh, thể tích trung bình 10 - 12 cm 3. Mạch máu và thần kinh chi phối Mạch máu: XHT được cấp máu chủ yếu bởi các nhánh của động mạch hàm trong. Thần kinh : XHT được chi phối bởi thần kinh hàm trên, một trong ba nhánh của dây thần kinh V. Xương hàm dưới và hệ cơ nhai 1.
Giải phẫu hình thể Theo tài liệu giải phẫu đầu mặt cổ, Đỗ Xuân Hợp (1973) [6.] mô tả như sau: XHD là một xương lẽ nhưng đối xứng, di động, có nhiều cơ bám, khớp với xương thái dương, là một trong hai bộ phận chính của hệ thống nhai. 6 Thân XHD hình móng ngựa có hai mặt và hai bờ: bờ dưới dày gồ ghề và bờ trên có răng mọc, được che phủ bằng niêm mạc nướu, bờ dưới cùng với bờ sau tạo nên góc hàm. Mặt ngoài XHD có các cơ bám da, cơ môi-cằm, mặt trong có gai Spix và lỗ ống răng dưới. Mặt sau thân xương có bốn mấu con gọi là gai cằm, gai trên có cơ cằm - lưỡi và gai dưới có cơ cằm - móng bám.
Phía ngoài có đường chéo trong, trên đó có cơ hàm - móng bám. Các cơ này có tác dụng kéo xương hàm dưới xuống trong động tác há miệng [7. Xương hàm dưới phía ngoài đặc, trong xốp, lòng xương mỗi bên có một ống răng dưới. Đường đi của ống sát mặt trong xương và chuyển hướng ra ngoài cách trước lỗ cằm 1cm.
Các cơ hàm Cơ hàm là những cơ có nguyên ủy hoặc bám tận ở XHD và góp phần vào vận động của hàm dưới như: nâng hàm, hạ hàm, đưa hàm tới trước, đưa đưa hàm lùi sau, đưa hàm sang bên. - Các cơ nâng hàm gồm: hai cơ cắn nâng hàm lên, tạo lực cắn. Hai cơ chân bướm trong đưa hàm sang bên. Hai cơ thái dương: phần trước như 1 cơ nâng, phần sau tác động như 1 cơ lùi sau khi 1 bên co [7.
- Các cơ hạ hàm: Các cơ tác động trong động tác há, gồm: hai cơ chân bướm ngoài, hai cơ nhị thân, các cơ trên móng khác. - Động tác đưa hàm tới trước: cơ chân bướm ngoài bám vào hố cơ chân bướm ngoài ở cổ lồi cầu. Hướng của cơ gần thẳng góc với trục lồi cầu nên có tác dụng cùng một lúc đưa lồi cầu xuống dưới và ra trước. Bó trên của cơ này còn tách ra bám vào bao khớp và đĩa khớp, có tác dụng cố định đĩa khớp khi hàm ở vị trí ra trước hoặc sang bên.
7 - Động tác đưa hàm lùi sau: phần sau cơ thái dương có tác dụng như một cơ lui sau. Tác động đồng thời hai bên của các cơ thái dương sau làm hàm dưới lùi về sau. - Động tác đưa hàm sang hai bên: Vận động sang bên của hàm dưới được thực hiện bởi tổ hợp của các cơ nâng và cơ đưa ra sau của bên làm việc, các cơ đưa ra trước của bên đối diện (bên không làm việc) [7. Mạch máu và thần kinh Động mạch: XHD được cấp máu bởi các nhánh của động mạch dưới hàm, động mạch cơ cắn, động mạch cơ chân bướm, động mạch huyệt răng, động mạch cằm.
Thần kinh: XHD được chi phối chủ yếu bởi các nhánh của dây thần kinh V3: thần kinh răng dưới, thần kinh lưỡi. Khớp thái dương hàm 1. Giải phẫu chức năng khớp thái dương hàm Theo Dỗ Xuân Hợp [6.], khớp thái dương hàm là khớp giữa chỏm lồi cầu XHD với lồi cầu và ổ chảo (fossa mandibularic) của xương thái dương nên gọi là khớp lưỡng lồi cầu. Khớp thái dương hàm là khớp động duy nhất của vùng sọ mặt giữ vai trò chính trong các hoạt động: ăn nhai, nói.
- Lồi cầu xương hàm dưới: lồi cầu cùng với mỏm vẹt là hai mỏm tận hết của ngành lên xương hàm dưới. Giữa hai mỏm đó là khuyết Sigma. Diện khớp của cả lồi cầu và xương thái dương được phủ bởi một mô sợi không mạch máu, săn chắc, chứa một ít tế bào sụn và proteglycan dạng sụn, các sợi chun và sợi kháng acid (sợi oxytalan). Đó là khớp động duy nhất của cơ thể mà các diện khớp không được bao bọc bởi sụn trong.
8 - Diện khớp ở sọ: thuộc phần dưới xương thái dương, ngay trước bờ trước xương ống tai và sau rễ của xương gò má. Diện khớp gồm lồi khớp và hõm khớp. - Đĩa khớp: đĩa khớp có hình một thấu kính lõm hai mặt. Mặt trên của đĩa hơi lồi ở phần sau và hơi lõm ở phần trước, phù hợp với hình thể của diện khớp ở sọ.
Mặt dưới của đĩa lõm. - Bao khớp: bao khớp hình phễu, rộng ở phía nền sọ và thuôn lại ở phía lồi cầu. Các thớ sợi của bao khớp nối với các sợi của bờ trước và bờ sau đĩa khớp trên toàn bộ chu vi của đĩa khớp, hình thành hai buồng khớp: buồng khớp trên và buồng khớp dưới. - Dây chằng bao khớp: bao khớp được tăng cường ở phía ngoài và phía trong bởi các sợi, thể hiện đặc tính của một dây chằng.
Dây chằng có hình quạt, rộng ở phía cung gò má và hẹp ở nơi bám vào cổ lồi cầu. Các thớ sợi của dây chằng đi theo hướng từ trên xuống dưới và từ trước ra sau, từ vùng lồi khớp đến phía sau cổ lồi cầu [7. Mạch máu và thần kinh khớp thái dương hàm - Mạch máu: Khớp thái dương hàm được cấp máu bởi các nhánh của: Động mạch màng não giữa, động mạch thái dương giữa, động mạch màng nhĩ trước, động mạch hầu lên. - Thần kinh: được chi phối bởi: Thần kinh cắn, thần kinh tai thái dương.
NGUYÊN NHÂN CÁC BIẾN DẠNG HÀM MẶT Các yếu tố bệnh căn của dị tật răng-mặt có thể được chia thành ba nhóm chính: - Nguyên nhân chuyên biệt. - Yếu tố di truyền. - Ảnh hưởng của môi trường. Các nguyên nhân đặc biệt : Gồm hai nhóm: 1.
Nguyên nhân của các hội chứng ở mặt và dị tật bẩm sinh Các hội chứng ở mặt và các dị tật bẩm sinh có nhiều nguyên nhân khác nhau [26.], nhưng người ta xác định nguyên nhân chính gây nên các hội chứng và dị tật này thường là: Hội chứng ở mặt do nhiễm độc rượu bào thai: Phơi nhiễm với nồng độ cao ethanol ở giai đoạn sớm của sự phát triển thai gây ra hội chứng nhiễm độc rượu bào thai (FAS = fatal alcohol syndrome), mà giờ đây được công nhận là một trong các dị tật toàn bộ não trước. Khuôn mặt bị FAS có đặc điểm kém phát triển xương hàm trên và tầng giữa mặt [53. Thiếu mô ở đường giữa của máng thần kinh trong quá trình phát triển phôi gây ra các dị dạng được gọi chung là các dị tật toàn bộ não trước. Đặc điểm của nó là ba não thất đầu tiên của não không tách rời ra được.
Tấm khứu giác phôi, xuất phát một phần từ máng thần kinh trước, quá gần nhau, gây ra sự phát triển khiếm khuyết của các nụ mũi trong. Kết quả là một loạt những biến dạng mặt, biểu hiện từ sự thiếu hoàn toàn mũi và các cấu trúc có liên quan cho đến tầng giữa mặt còn nguyên vẹn nhưng kém phát triển. Gọi là FAS Nguyên nhân các hội chứng mặt do sự phát sinh và di chuyển của mào thần kinh: Thảm họa quái thai vào những năm 1970 do sử dụng thalidomide trong điều trị một số dạng trầm cảm, và retinoic acid là thuốc điều trị cho chứng nổi mụn trầm trọng đã gây ra nhiều vấn đề vào những năm 1980. Người ta nhận ra sự nguy hiểm của hai thứ thuốc này trong thời kỳ 10 phôi thai.
Chính chúng đã gây ra hai hội chứng ở mặt có liên quan đến mào thần kinh là chứng lép nửa mặt và loạn xương hàm dưới-mặt [117.