Chương 1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Đánh giá đất đai cho phát triển một số cây dƣợc liệu huyện An Lão, tỉnh Bình Định và đề xuất giải pháp.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CHO PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, nghiên cứu ĐKTN phục vụ đề xuất định hƣớng phát triển cây trồng nông nghiệp nói chung và một số lại cây trồng khác (nhƣ cây rừng sản xuất, cây dƣợc liệu, cây tinh dầu,…) nói riêng cho một khu vực, thƣờng đƣợc tiếp cận theo hai hƣớng cơ bản là: Nghiên cứu đánh giá đất đai và nghiên cứu, đánh giá sinh thái cảnh quan cho phát triển cây trồng. Trong đó, tiếp cận nghiên cứu ĐKTN theo hƣớng đánh giá đất đai, phục vụ cho phát triển cây trồng đã đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam khẳng định tính ứng dụng cao và là xu hƣớng phát triển các công trình nghiên cứu địa lí tự nhiên hiện nay. Bởi vì, nghiên cứu ĐKTN là quá trình nghiên cứu tổng hợp các thành phần của tự nhiên mà trong đó đất đai đƣợc coi nhƣ là tấm gƣơng phản chiếu của mối quan hệ, tác động tƣơng hỗ giữa các yếu tố tự nhiên.
Do vậy, tiếp cận nghiên cứu ĐKTN thông qua đánh giá thích hợp đất đai sẽ chỉ ra đƣợc tiềm năng sử dụng đất nói chung và phát triển các loại cây trồng nói riêng. Đây cũng chính là hƣớng tiếp cận nghiên cứu ĐKTN cho phát triển cây dƣợc liệu của đề tài. Cùng với tiến trình phát triển tự nhiên và KT- XH của lãnh thổ, nghiên cứu ĐKTN trên cơ sở nghiên cứu đất đai đã không ngừng phát triển hoàn thiện dần về lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể, nhằm đặt đƣợc hiệu quả cao trong nghiên cứu địa lý ứng dụng. Bởi tài nguyên đất đã cùng với loài ngƣời đồng hành qua các nền văn minh nông nghiệp, từ buổi sơ khai đến sự phát triển mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Với các yêu cầu sử dụng khác nhau, con ngƣời nghiên cứu đất bằng nhiều phƣơng pháp, tích luỹ đƣợc một khối lƣợng lớn kiến thức, hình thành nên nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau về đất. Nhƣng nhìn chung, nghiên cứu đất đai cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phát triển cây trồng đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng gắn với những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới. Nghiên cứu, đánh giá đất đai cho phát trên thế giới. triển cây trồng Trên thế giới, hƣớng nghiên cứu, đánh giá đất đai cho phát triển nông nghiệp nói 5 chung và cây trồng nói riêng xuất hiện từ rất sớm, và đã trở thành hƣớng nghiên cứu bắt buộc ở hầu hết các quốc gia trên thế giới cho trong phát triển kinh tế nông lâm nghiệp trong giai đoạn gần đây.
Bởi nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất đai có thể cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn đáng tin cậy, giúp các nhà quản lý xem xét, lựa chọn và đƣa ra quyết định các phƣơng án sử dụng đất cho phát triển cây trồng một cách hợp lý. Những thông tin tƣ liệu đầy đủ và toàn diện cả về ĐKTN, KT- XH và môi trƣờng trong đánh giá đất đai giúp cho các giải pháp sử dụng đất cho phát triển tự nhiên hoàn toàn có tính khả thi, bởi lƣờng trƣớc đƣợc những thuận lợi và khó khăn, đề xuất đƣợc những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất hợp lý và đạt hiệu quả cao. Việc lựa chọn phƣơng pháp đánh giá khoa học, phù hợp là khâu hết sức quan trọng bởi nó quyết định rất nhiều đến kết quả đánh giá. Do vậy, các nƣớc phát triển trên thế giới đều xây dựng cho mình một phƣơng pháp đánh giá đất phù hợp với điều kiện lãnh thổ của quốc gia, làm cơ sở cho sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý.
Có thể khái quát phƣơng pháp đánh giá đất đai đã và đang đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam. - Ở Hoa Kỳ: Từ năm 1951, Cục Cải tạo đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đƣa ra hệ thống phân loại khả năng thích nghi đất đai có nƣớc tƣới (Irrigation Land Suitability Classification). Dựa vào đặc điểm đất đai và một số chỉ tiêu kinh tế, hệ thống phân loại đƣợc chia thành 3 lớp: lớp có thể trồng trọt đƣợc (Arable), lớp có thể trồng trọt đƣợc một cách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng trọt đƣợc (Non arable) [29],[30]. Ngoài ra, phân loại theo khả năng đất đai (Land Capability) cũng đƣợc mở rộng trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ, do Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1961.
Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đai đƣợc nhóm lại, áp dụng vào khả năng sản xuất của một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó. Chỉ tiêu đánh giá là các hạn chế của lớp phủ thổ nhƣỡng đối với mục tiêu canh tác đề nghị [29],[30]. - Ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu: Ở các quốc gia thuộc khu vực này, việc phân hạng và đánh giá đất đai cho phát triển cây trồng nông nghiệp và một số cây tự nhiên khác đƣợc thực hiện từ những năm 1960 và đƣợc chia thành ba bƣớc tƣơng ứng với 3 nội dung: 6 Bước 1: Đánh giá lớp phủ thổ nhƣỡng; Bước 2: So sánh các loại thổ nhƣỡng theo tính chất tự nhiên Bước 3: Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai, trong đó yếu tố đất đƣợc xem xét kết hợp với địa hình, khí hậu và độ ẩm đất. Có thể nhận thấy, đánh giá đất đai ở đây chỉ thuần túy nghiên cứu đến đặc điểm tự nhiên của đất đai, chƣa xem xét đến khía cạnh KT-XH trong việc sử dụng đất [25],[29].
- Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Từ những năm 1970, song song với tiến trình thống nhất quan điểm phân loại thổ nhƣỡng, FAO đã tài trợ những chƣơng trình nghiên cứu có tính toàn cầu về đánh giá đất đai và sử dụng đất đai trên quan điểm phát triển lâu bền. Kết quả đã cho ra đời dự thảo đầu tiên về phƣơng pháp đánh giá đất đai năm 1972. Sau đó, đề cƣơng đƣợc bổ sung và hoàn chỉnh vào năm 1983. Tài liệu đã đƣợc cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và công nhận là phƣơng tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai cho phát triển cây trồng, phục vụ cho phát triển kinh tế nông nghiệp và các loại cây trồng khác [44],[45].
Năm 1970, FAO đã đƣa ra phƣơng pháp đánh giá thích nghi một cách hệ thống trong công trình “A Framework for Land Evaluation” cùng với những hƣớng dẫn chi tiết khác về đánh giá trong các ngành nông nghiệp tƣới nhờ nƣớc trời,… Trình tự đánh giá đất đai bao gồm 4 bƣớc: mô tả các loại hình sử dụng đất có triển vọng; xác định yêu cầu của từng loại hình sử dụng đất; tiến hành điều tra để lập bản đồ đơn vị đất đai và mô tả các đặc tính của nó; so sánh yêu cầu của những loại hình sử dụng đất, các loại cây trồng với đặc tính của của các đơn vị đất đai để phân hạng thích nghi đất đai [44]. Quy hoạch sử dụng đất đai theo hệ thống của FAO (1993) đối với một lãnh thổ bất kỳ đều tuân theo 10 bƣớc thực hiện tƣơng đối hữu dụng, xác định để hƣớng dẫn quy hoạch, cụ thể [44] - Bƣớc 1: Thiết lập mục tiêu và các tƣ liệu có liên quan; - Bƣớc 2: Tổ chức công việc; - Bƣớc 3: Phân tích vấn đề; - Bƣớc 4: Xác định các cơ hội cho sự thay đổi; 7 - Bƣớc 5: Đánh giá thích nghi đất đai; - Bƣớc 6: Đánh giá những sự chọn lựa khả năng (phân tích KT-XH, MT); - Bƣớc 7: Lọc ra những chọn lựa tốt nhất; - Bƣớc 8: Chuẩn bị quy hoạch sử dụng đất đai; - Bƣớc 9: Thực hiện quy hoạch; - Bƣớc 10: Theo dõi và xem xét, chỉnh sửa quy hoạch Có thể nói đây là bộ tài liệu đƣợc cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và xem đây là phƣơng tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai trong giai đoạn hiện nay Tiếp nối đề cƣơng tổng quát 1976 là hàng loạt tài liệu hƣớng dẫn cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tƣợng chuyên biệt cũng đƣợc FAO xuất bản nhƣ: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (FAO, 1984); đánh giá đất đai cho lâm nghiệp (1984, 1994); đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp đƣợc tƣới (FAO, 1985) [44], [45], [46]. Nhận thấy, ngày nay công tác đánh giá đất đai đƣợc thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu của hoạt động đánh giá tài nguyên hay phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai nay cho phát triển cây trồng nông nghiệp nói chung và cây trồng khác nói riêng. Ở Việt Nam Từ năm 1980 đến nay, nghiên cứu ĐKTN thông qua đánh giá đất đai bằng phƣơng pháp của FAO đƣợc đẩy mạnh ở Việt Nam và đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu phân hạng đất đai phục vụ cho mục tiêu phát triển nông – lâm nghiệp, tiêu biểu nhƣ: đánh giá, phân hạng đất đai của Tôn Thất Chiểu và cộng sự; vận dụng phƣơng pháp phân loại sử dụng đất đai của FAO (1980), Bùi Quang Toản, Trần An Phong, Nguyễn Xuân Quát [25], [29] tiến hành đánh giá, quy hoạch sử dụng đất trong qua trình tổ chức sản xuất.
Các tác giả đã sử dụng chỉ tiêu đánh giá đất đai gồm các điều kiện tự nhiên nhƣ thổ nhƣỡng, thủy văn và tƣới tiêu, khí hậu nông nghiệp. Hệ thống phân loại đến cấp lớp (class)- thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất. Năm 1989, do Vũ Cao Thái chủ trì, Viện Nông hóa – Thổ nhƣỡng đã tiến hành nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất đai Tây Nguyên cho cây Cao su, Cà phê, 8 Chè và Dâu tằm. Công trình đã vận dụng phƣơng pháp phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính để đánh giá tiềm năng đất đai vùng Tây nguyên.
Kết quả phân đất đai theo 4 hạng riêng cho từng loại cây trồng. Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng sản xuất đất trống đồi núi trọc và xác định phƣơng hƣớng sử dụng hợp lý” do Hoàng Xuân Tý và cộng sự thực hiện năm 1990. Công trình đã đánh giá tiềm năng đất đai dựa trên phân loại sinh khí hậu, xây dựng bản đồ thích hợp về mặt sinh khí hậu, đánh giá khả năng cây trồng và phục hồi rừng áp dụng cho vùng đồi Quảng Nam.