CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CỦA THỦY THỦ TÀU CHIẾN ĐẤU MẶT NƯỚC 1. Khái niệm và phân loại tàu chiến đấu mặt nước - Khái niệm: tàu chiến là tàu được trang bị vũ khí, tổ hợp vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự khác để tác chiến và phục vụ tác chiến ở các vùng nước (biển, sông, hồ…) [4]. - Phân loại tàu chiến đấu mặt nước Theo công dụng: tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu quét mìn, tàu sân bay, tàu đổ bộ, tàu săn ngầm… Theo trang bị vũ khí chính: tàu pháo, tàu tên lửa, tàu phóng lôi… Theo môi trường hoạt động: tàu mặt nước, tàu ngầm.
Theo dạng năng lượng của động cơ: tàu nguyên tử (hạt nhân), tàu chạy nhiên liệu thường (diezen, tuabin khí), tàu chạy bằng hơi nước. Theo kết cấu dẫn động: tàu chân vịt, tàu chạy bằng bơm thủy lực (phản lực)… Ngoài ra, tàu chiến còn được phân loại theo đặc điểm chiến thuật: tàu chủ lực, tàu phụ (của hạm đội), tàu dùng cho mục đích chiến lược (mang vũ khí và tạo các đòn đánh chiến lược) và tàu dùng cho mục đích chiến thuật (mang vũ khí và thực hiện nhiệm vũ chiến thuật)… Các tàu chiến (cả tàu mặt nước và tàu ngầm) được chế tạo theo cùng một thiết kế, gọi là lớp (kiểu). - Tàu hộ tống: tàu chiến mặt nước có nhiệm vụ trinh sát, hộ tống, bảo vệ các tàu chiến (hoặc đoàn tàu chiến) khác trong tác chiến, hành quân, ra vào căn cứ. Có thể dùng để bảo vệ cảng, bảo vệ căn cứ và tuần tiễu ven biển, trên sông.
Được chia ra: tàu hộ vệ hạng nặng và tàu hộ vệ hạng nhẹ. Tàu hộ vệ hạng nặng có lượng giãn nước từ 600-3.000 tấn (đặc biệt có tàu trên 3.000 tấn), tốc độ tới 35 hải lý/giờ (65 km/h). Tàu hộ vệ hạng nhẹ có lượng choán nước dưới 150 tấn, tốc độc tới 40 hải lý/giờ, trang bị pháo 40 mm, súng máy phòng không… Trên tàu hộ vệ có thiết bị thủy âm và thiết bị vô tuyến [4]. Tàu Gepard thuộc lớp tàu hộ tống.
Tàu có 10 khoang kích nước với 3 tầng. Tàu dài 102m và rộng 13,7m. Tàu có 3 máy chính, 2 tuabin, 1 động cơ diesel. Động cơ Tuabin có công suất 19.500 mã lực, động cơ Diesel có công suất 8000 mã lực và 3 máy phát điện có công suất 600 kw/máy [4].
Hiện mới có Nga và Việt Nam sở hữu lớp tàu Gepard này. Đặc điểm hoạt động của thủy thủ tàu chiến đấu mặt nước Trên tàu chiến, thủy thủ được phân làm các ngành nghề đặc trưng, gồm: Hàng hải, Vũ khí, Tên lửa, Ngư lôi, Thông tin, Rada, Sona, Cơ điện, Thợ máy, Quân y và Hậu cần. Nhiệm vụ cụ thể của mỗi ngành nghề như sau: + Ngành 1: Hàng hải Khai thác, vận hành la bàn, hệ thống lái tàu, máy tác nghiệp tự động, máy tính đường, máy đo sâu, Rada hàng hải, hải đồ điện tử, hệ thống định vị toàn cầu, hệ thống an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu, hệ thống tích hợp hàng hải. Xác định vị trí tàu và theo dõi đường đi của tàu [2].
+ Ngành 2-3: Vũ khí, Tên lửa, Ngư lôi Tên lửa tàu: khai thác, vận hành bộ khí tài tên lửa, tính toán sử dụng vũ khí tên lửa có hiệu quả, thực hiện kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa bộ khí tài tên lửa, vũ khí pháo tàu [2]. Pháo tàu: khai thác, vận hành các trang thiết bị kỹ thuật thuộc ngành pháo, chuẩn bị chiến đấu, tổ chức chiến đấu, tính toán sử dụng vũ khí pháo có hiệu quả và thực hiện các chế độ huấn luyện, kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa vũ khí, khí tài thuộc ngành pháo trên tàu [2]. Ngư lôi - Chống ngầm: khai thác, vận hành ngư lôi, bom phản lực chống ngầm, hệ thống điều khiền hoả lực, hệ thống dẫn động điều khiển thiết bị phóng. Huấn luyện chuẩn bị chiến đấu, chiến đấu, kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa vũ khí, khí tài thuộc ngành [2].
Thủy lôi - Chống thủy lôi: khai thác, vận hành thuỷ lôi, khí tài dò tìm, thiết bị rà quét thuỷ lôi và các hệ thống điều khiển từ xa thiết bị ngầm. Huấn luyện chuẩn bị chiến đấu, chiến đấu, tính toán sử dụng có hiệu quả vũ khí thủy lôi, chống thuỷ lôi trong chiến đấu, kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa vũ khí, khí tài trên tàu [2]. + Ngành 4-6-7: Thông tin, Rada, Sona Rada, Sona Hải quân: khai thác, vận hành Rada, Sona, thiết bị tác chiến điện tử. Thực hiện các chế độ, quy trình kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa trang bị, khí tài thuộc ngành [2].
Thông tin Hải quân: khai thác, vận hành thiết bị thu phát vô tuyến điện, hữu tuyến điện và thông tin vi ba, thông thoại nội bộ trên tàu. Thực hiện kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa trang bị, khí tài trên tàu [2]. + Ngành 5: Cơ điện, Thợ máy Cơ điện: khai thác và vận hành hệ thống điện tàu, máy phụ và các hệ thống trên tàu, hệ trục chân vịt và trạm điện tàu. Thực hiện quy trình kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa máy móc, trang thiết bị thuộc ngành [2].
Ngành Máy tàu: khai thác, vận hành máy chính, máy phụ và các hệ thống trên tàu, hệ trục chân vịt. Thực hiện các chế độ kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc, trang thiết bị thuộc ngành [2]. + Ngành tổng hợp: Quân y, Hậu cần. Quân y tàu: đảm bảo cơ số thuốc; tổ chức các hoạt động vệ sinh phòng dịch trên tàu; theo dõi, giám sát sức khỏe cho thủy thủ; thực hiện các biện pháp cấp cứu ban đầu cho thủy thủ trên tàu [2].
Hậu cần: đảo đảm toàn bộ công tác hậu cần trên tàu, bảo đảm vệ sinh tàu, đảm bảo chế độ ăn và khẩu phần ăn cho thủy thủ [2]. Môi trường lao động trên tàu chiến đấu mặt nước Môi trường lao động là khoảng không gian lao động của con người, được hình thành do điều kiện lao động sản xuất của trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ, diễn ra trong quá trình lao động, kết hợp với các yếu tố của môi trường tự nhiên về thời tiết, khí hậu tại nơi lao động [36], [70]. Điều kiện sống của các thuỷ thủ trên tàu có thể chia thành 2 nhóm: yếu tố tác động thường xuyên (điều kiện bố trí, khí hậu vùng biển hoạt động, vi khí hậu và các yếu tố môi trường bất lợi trên tàu.) và các yếu tố tác động theo chu kỳ (bức xạ điện từ, rung xóc, hơi khí độc). Khi đi biển, cơ thể thủy thủ chịu tác động đồng thời và thường xuyên của hàng loạt các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội trên tàu.
Các yếu tố tương tác lẫn nhau gây ảnh hưởng đến thủy thủ [56]. Môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sức khỏe thủy thủ, đặc biệt là môi trường tự nhiên trên biển. Nếu như trên bờ, người lao động có nhiều biện pháp ngăn ngừa, phòng tránh những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên thì trên biển, người lao động phải hàng ngày, hàng giờ đối mặt trực tiếp với những nguy hiểm, rủi ro. * Ảnh hưởng của dông, gió, bão Trên bề mặt trái đất, biển là nơi hình thành các cơn áp thấp, dông, bão và các trận cuồng phong gây nên những trận biển động với độ cao của sóng rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động tác chiến cũng như an toàn sinh mạng của thủy thủ.
Trung bình hàng năm có 10-12 cơn bão và 2-4 áp thấp nhiệt đới hoạt động ở biển Đông [7]. * Ảnh hưởng của sóng biển Khi lao động trên biển, sóng biển gây chòng chành tàu và dẫn đến say sóng. Say sóng là do sự kích thích của các dao động trên tàu dưới ảnh hưởng của sóng biển mà sinh ra, biểu hiện chủ yếu là buồn nôn và nôn. Đối với Hải quân, say sóng là một hiện tượng rất phổ biến, ảnh hưởng không ít tới sức khỏe và sức chiến đấu của thủy thủ, nhất là trong điều kiện thời tiết xấu, điều kiện sinh hoạt khó khăn, chật hẹp [44].
Các hình thức dao động của tàu trên mặt biển: Dao động trước sau lấy trục hoành của tàu làm tâm. Dao động toàn thân tàu theo hướng lên xuống. Dao động toàn thân tàu lắc lư theo hướng phải – trái. Dao động của tàu quay xung quanh tâm điểm.
Các dao động chủ yếu là hình thức dao động 1 và 2. Các hình thức dao động không đơn độc, riêng biệt mà phối hợp nhau. Những hình thức dao động đó ảnh hưởng rất nhiều đến cơ thể và đưa đến say sóng [44]. Nguyễn Anh Tuấn và cs (2015) đã nghiên cứu và xác định được chỉ số gây say sóng trong chuyển động tàu để đánh giá sự thoải mái của hành khách trên tàu.
Tác giả đã sử dụng chương trình tính toán MSI dựa trên các phổ năng lượng sóng, ước lượng tốc độ phù hợp để điều khiển tàu giúp hạn chế say sóng [120]. Sóng biển trong dông bão có thể đe dọa an toàn sinh mạng của thủy thủ và là nguyên nhân tạo ra các stress về tâm sinh lý của thủy thủ [63]. Trần Quỳnh Chi (2003) nghiên cứu phản ứng của cơ thể với nghiệm pháp gia tốc liên tục Coriolis cho thấy: nhóm thủy thủ chịu sóng tốt chịu được nghiệm pháp >2 phút, các biểu hiện lâm sàng gần như hoàn toàn bình thường (chỉ có 20% có chóng mặt nhẹ), chỉ số thần kinh thực vật tăng biểu hiện xu hướng cường chức năng thần kinh giao cảm. Nhóm chịu sóng kém (không chịu được hết thời gian quy định của nghiệm pháp, <2 phút) có biểu hiện lâm sàng của say sóng rầm rộ (hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, nôn…), đáp ứng của hệ tim mạch và hệ thần kinh thực vật theo hướng cường hệ thần kinh phó giao cảm.
Nhóm say sóng trung bình có biểu hiện say sóng nhẹ hơn nhóm trên. Chức năng hệ tim mạch và hệ thần kinh thực vật hầu như không thay đổi (tần số mạch, huyết áp và chỉ số thần kinh thực vật không thay đổi hoặc chỉ tăng không đáng kể) [17]. * Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí và bức xạ mặt trời Khi lao động trên biển, con người chịu tác động trực tiếp của nhiệt độ không khí nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông. Về mùa hè, ngoài các bức xạ trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống, người lao động trên biển còn phải chịu sức nóng do các máy móc hoạt động.
Chính điều này làm cho nhiệt độ bên trong con tàu tăng lên từ 50C đến 100C [2].