CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN XÁC LẬP ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÍ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ BẢO TỒN 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.1 Khái niệm về du lịch Mặc dù chưa được đưa ra một cách rõ ràng nhưng ngay từ xa xưa khái niệm về du lịch đã được ẩn dụ trong các câu ca dao, tục ngữ như “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” thể hiện rõ ý thức du lịch và coi đây là một hoạt động hiện hữu mang tính tích cực. Nếu xét về nguồn gốc ngữ nghĩa thì ở Phương Đông Du lịch là một từ gốc Hán có nghĩa là đi chơi và trải nghiệm đời sống (du = đi chơi, lịch = trải nghiệm). Điều đó đồng nghĩa một phần nào với khái niệm về du lịch của Guyer và Feuler (1905), các học giả đã cho rằng “Du lịch là sự phục hồi sức khỏe và thay đổi môi trường xung quanh dựa vào sự phát sinh nhu cầu và tình cảm của con người đối với vẻ đẹp của thiên nhiên” (trích dẫn bởi Chandima, 2013) [26].
Tuy nhiên, khi du lịch phát triển bùng nổ như một hiện tượng thì đã xuất hiện những quan điểm khác nhau về du lịch. Hunzikeer, Clauder Kaspar, Gallen cho rằng du lịch như là tổng thể các mối quan hệ nảy sinh giữa khách du lịch với môi trường và con người nơi khách đi qua, dừng lại nhưng không có mục đích định cư và không liên quan đến bất kỳ hoạt động kiếm tiền nào (trích dẫn bởi Chandima, 2013) [26]. Nhà kinh tế học Edmod Picara cho rằng “du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí” (trích dẫn bởi Chandima, 2013) [26]. Tuy có nhiều khái niệm về du lịch khác nhau nhưng các khái niệm này không những không mâu thuẫn với nhau mà còn bổ sung cho nhau để có được một khái niệm đầy đủ về du lịch như I.I Pirojnik “Du lịch là một hoạt động dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi thường trú nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế 10 và xã hội” [34].
Trên cơ sở đó, UNWTO (2010) xác định “du lịch bao gồm các hoạt động của con người đi đến và ở lại nơi ở thông thường của họ nhưng không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích khác” [39]. Luật Du lịch Việt Nam (2017) đã đưa ra khái niệm “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [12]. Nhìn chung, các khái niệm về du lịch đều có những điểm đáng chú ý: - Đưa khách du lịch rời khỏi nơi ở hàng ngày để bước đến một không gian sống khác trong một khoảng thời gian nhất định. - Để khách du lịch tiếp xúc với thiên nhiên, con người ở nơi có cuộc sống hoàn toàn khác lạ và hấp dẫn.
- Tạo điều kiện để du khách khám phá sự khác lạ ở không gian mới với những nét khác biệt về thiên nhiên, văn hóa, dân tộc để thỏa mãn trí tưởng tượng và nhu cầu giải trí của du khách ở vùng đất mới trong khoảng thời gian ngắn mà không bị trùng lặp lại cái mà họ đã biết.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung và là tiền đề cho phát triển du lịch. Có nhiều quan điểm khác nhau về tài nguyên du lịch nhưng nhìn chung các quan điểm này đều thể hiện sự gắn kết chặt chẽ với khái niệm du lịch. Có 03 khái niệm nổi bật: Pirojnik (1985) quan niệm nằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực, tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ [34]. Trần Đức Thanh và cộng sự (2017) quan niệm rằng tài nguyên du lịch là những thành tạo tự nhiên, những tính chất của thiên nhiên, các công trình, sản phẩm do bàn tay hay trí tuệ của con người làm nên, cùng các giá trị thẩm mỹ, lịch sử, văn hóa, tâm linh, giải trí, kinh tế.
của chúng có sức hấp dẫn với khách du lịch và/hoặc được khai thác đáp ứng nhu cầu du lịch [15]. 11 Luật du lịch Việt Nam (2017) đã đưa ra khái niệm về tài nguyên du lịch như sau: tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm TNDL tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa [12]. Trong thực tế không phải bất cứ mọi điều kiện địa lý nào cũng có thể trở thành tài nguyên du lịch mà chỉ có những tài nguyên (bao gồm cả tự nhiên và nhân văn) có sức hút/sức hấp dẫn đối với du khách thì mới được coi là tài nguyên du lịch.
Điều đó cho thấy sự khác biệt trong khái niệm tài nguyên trong du lịch khác với khái niệm tài nguyên trong các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, trong tất cả các khái niệm nêu trên đều thể hiện phần nào các loại tài nguyên du lịch theo nguồn gốc phát sinh: - Tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch văn hóa: bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.3 Khái niệm về bảo tồn Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo tồn có ý nghĩa là gìn giữ những cái thuộc về tài sản chung, không hoặc hạn chế để bị mất mát, tổn thất. Có hai khái niệm về bảo tồn: bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn di sản văn hóa.
Hiện nay khái niệm bảo tồn thiên nhiên chưa được đề cập cụ thể, rõ ràng, tuy nhiên dựa trên các tài liệu nghiên cứu có thể hiểu bảo tồn thiên nhiên là các hoạt động tích cực nhằm bảo vệ, duy trì, sử dụng, phục hồi và cải thiện môi trường thiên nhiên, bảo tồn tài nguyên sinh học, động vật, thực vật, vi sinh vật và bảo tồn các yếu tố phi sinh vật một cách lâu dài. 12 Bảo tồn di sản văn hóa là tập hợp các biện pháp được thực hiện để kéo dài tuổi thọ của di sản văn hóa đồng thời tăng cường truyền tải các thông điệp và giá trị quan trọng của di sản. Trong lĩnh vực tài sản văn hóa, mục đích của bảo tồn là duy trì các đặc điểm vật chất và văn hóa của đối tượng để đảm bảo rằng giá trị của nó không bị suy giảm và nó sẽ tồn tại lâu hơn trong khoảng thời gian giới hạn của con người.2 Phát triển du lịch với bảo tồn 1.1 Mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn Du lịch và bảo tồn có mối quan hệ lâu đời, gắn liền với lịch sử của các khu bảo tồn được thành lập. Ngay từ khi thành lập các công viên quốc gia đầu tiên trên Thế giới chúng đã được giao một vai trò kép là vừa đạt mục tiêu bảo tồn thiên nhiên, vừa là điểm đến du lịch và giải trí.
Gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của du lịch sinh thái và du lịch dựa vào thiên nhiên thì sức hút của các VQG, KBTTN đối với du khách ngày càng lớn. Vì vậy, du lịch và bảo tồn là hai mặt của phát triển trong thời hiện đại, du lịch có khả năng kích thích sự bảo tồn tài nguyên cả về ý thức và lợi ích, đồng thời khi tài nguyên được bảo tồn sẽ dẫn đến nâng cao chất lượng du lịch, đảm bảo được lợi ích kinh tế. - Quan hệ cùng tồn tại, cộng sinh: như đã đề cập ở trên, tài nguyên du lịch (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa) là tiền đề cho sự phát triển của du lịch. Trong giai đoạn phát triển sơ khai (khi chưa thành lập các KBTTN, VQG, khu DTSQ, khu bảo tồn đất ngập nước), du lịch và bảo tồn tồn tại một cách độc lập và có ít mối quan hệ với nhau.
Tuy nhiên, theo quy luật vận động và phát triển, du lịch ngày càng phát triển, việc sử dụng tài nguyên du lịch (cả về số lượng và tần suất) ngày càng cao và rõ rệt hơn, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của tài nguyên du lịch. Khi đó, xuất hiện mối quan hệ cùng tồn tại, cộng sinh giữa phát triển du lịch và bảo tồn. Trong mối quan hệ này, du lịch và bảo tồn đều nhận được những lợi ích và có sự hỗ trợ lẫn nhau. Các giá trị của tự nhiên được bảo tồn sẽ phát huy được sức hấp dẫn đối với khách du lịch, nâng cao chất lượng du lịch từ đó sẽ đảm bảo được lượng du khách, đảm bảo nguồn thu từ du lịch, đem lại lợi ích kinh tế.
Các giá trị về kinh tế thu được từ hoạt động du lịch sẽ góp phần nâng cao giá trị, chất lượng bảo tồn. Như vậy đã 13 đem lại lợi ích cho cả du lịch và môi trường phù hợp với yêu cầu của sự phát triển bền vững trong du lịch. - Quan hệ mẫu thuẫn, xung đột: Khi phát triển du lịch một cách tự phát, ồ ạt hoặc phá vỡ quy hoạch, chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế mà không chú ý đến bảo tồn khi đó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ du lịch, từ đó sẽ dẫn đến những mâu thuẫn về xu hướng và lợi ích. Khi sự mâu thuẫn đã đạt đến một ngưỡng nhất định mà không giải quyết được sẽ dẫn đến tình trạng xung đột.