CHƯƠNG I: TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH ĐỂ ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG. Hàng hóa chất lượng môi trường. Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người và nó được sản xuất ra để bán. Hàng hóa chất lượng môi trường là một khái niệm mới được đưa vào trong kinh tế học, đây là loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng.
Nó: + Đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người ( sống) + Là điều kiện cần cho lao động sản xuất. + Là một yếu tố khách quan của cuộc sống vì nó cũng cần phải tái sản xuất. Cho đến nay kinh tế học môi trường cho rằng muốn nghiên cứu hàng hóa môi trường thì phải nhìn nhận trên góc độ tổng giá trị kinh tế. Giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế (TEV) Khái niệm TEV ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX, là khái niệm được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện về giá trị hàng hóa môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ gồm những giá trị trực tiếp có thể lượng hóa được mà còn có cả những giá trị gián tiếp – những giá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội.
Các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên. Vấn đề thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng phương pháp của họ đặt cơ sở trên cách giải thích truyền thống về sự hình thành của giá trị ( tức là dựa trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người, người định ra giá trị và khách thể - vật được đánh giá ). Các cá nhân có một số giá trị đã hình thành, 15 điều này sẽ dẫn đến các khách thể sẽ bị gán cho một số giá trị khác nhau. Trên nguyên tắc, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đàu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng.
TEV = UV + NUV trong đó: UV = DUV + IDUV NUV = OV + BV + EXV ( UV : giá trị sử dụng NUV : giá trị phi sử dụng DUV : giá trị sử dụng trực tiếp IDUV : giá trị sử dụng gián tiếp OV : giá trị tùy chọn BV : giá trị tùy thuộc EXV : giá trị tồn tại. Vì OV không rõ ràng giữa UV và NUV ta có sơ đồ mô tả sau : Hình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế TEV UV NUV NUV UV DUV IUV OV BV UV EXV Nguồn: Giáo trình bài giảng Kinh tế môi trường, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1998. 16 Giá trị sử dụng : Các nhà kinh tế phải tính giá trị sử dụng, là loại giá trị hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường. Người câu cá, thợ săn, người đi dạo… tất cả đều sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả tiền trực tiếp.
Nó bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp: Là những giá trị mà trong thực tế nó liên quan đến sản lượng đầu ra của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ môi trường xác lập trên thị trường mà người ta có thể tính được giá của nó. Một cá nhân có thể trực tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó ( thu nhặt gỗ củi để đốt, câu cá để ăn, bán…) hoặc bằng cách tăng lợi ích từ bản thân thị trường tài nguyên ( Ví dụ: Cảnh quan của một công viên hay Vườn quốc gia…). Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị dựa chủ yếu trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, có chức năng gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế, hoạt động sống của con người đảm bảo lợi ích của con người và đảm bảo những thảm họa có thể không xảy ra. Ví dụ: Một khu rừng giúp chống hiện tượng xói mòn đất hay cản bão làm giảm thiệt hại đối với tài sản.
Tuy nhiên phân biệt giữa giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp không phải lúc nào cũng rõ ràng. Giá trị tùy chọn: Là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó để sử dụng cho tương lai. Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái. Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tính chất lựa chọn của nó.
- Giá trị phi sử dụng : Thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất thật sự của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế , hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng sản phẩm này. Thay vào đó các giá trị này được coi như những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con người, những sự lựa 17 chọn này có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân trọng đối với quyền lợi hoặc phúc lợi của các sinh vật không phải là con người.các giá trị này vẫn còn tập trung chú trọng nhiều đến con người nhưng nó có thể bao hàm cả nhận thức về các giá trị tồn tại của các giống loài khác nữa hoặc cả quần thể hệ sinh thái. - BV : Phụ thuộc vào tính đặc trưng sinh thái của khu vực nghiên cứu mà quan điểm của người đánh giá đưa ra trong đó nó liên quan chặt chẽ tới tính đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái mà các nhà kinh tế sinh thái cần thiết phải đưa ra đánh giá tính phụ thuộc của nó. Việc lượng hóa giá trị này hết sức khó khăn và nó tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia.
- EXV : Các tài nguyên môi trường đều có giá trị thực nội tại của chính bản thân chúng. Giá trị này không liên quan tới việc sử dụng, nó liên quan đến các thế hệ mà duy trì giá trị của hệ sinh thái đó có ý nghĩa với thế hệ mai sau ( về kinh tế, chính trị, sinh thái ). Loại giá trị này nhận thức thì không khó nhưng lượng giá bằng tiền rất khó khăn. Ví dụ về tổng giá trị kinh tế của khu rừng: - Giá trị sử dụng trực tiếp như : lợi tức từ gỗ, động vật, giá trị phi gỗ… - Giá trị sử dụng gián tiếp như: duy trì nguồn nước ngầm, chống lũ quét, chống xói mòn đất… - Giá trị tùy chọn thì có sự khác nhau giữa các khu rừng.
Ví dụ: rừng miền núi ở phía Bắc, giá trị tùy chọn có thể là giá trị của các loại gỗ lim, sến, táu… còn rừng miền núi ở Tây Nguyên thì giá trị tùy chọn lại là giá trị của gỗ cẩm lai… - Giá trị tùy thuộc như là thắng cảnh cho các thế hệ tương lai hoặc ý muốn bảo tồn thiên nhiên. Giá trị tùy thuộc cũng có sự khác nhau giữa các khu rừng. Ví dụ đối với hệ sinh thái Ba Bể, rừng Nà Hang thì việc duy trì khu rừng này là chỗ dựa của loài voọc mũi hếch, còn ở Vườn quốc gia Cát Tiên là loài tê giác… 18 - Giá trị tồn tại của một khu rừng như là bảo tồn tính đa dạng sinh học. Ví dụ rừng Cúc Phương là bảo tồn cây chò chỉ… Như vậy việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái dựa trên quan điểm tổng hợp người ta đã đưa ra giá trị TEV, đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học môi trường đưa ra các phương pháp đánh giá nhằm lượng hóa các giá trị của môi trường phục vụ cho việc hoạch định chính sách duy trì, bảo tồn, đầu tư phát triển, đảm bảo phát triển bền vững.
Đánh giá chất lượng môi trường. Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng môi trường. Hiện nay người ta đã phải thừa nhận chất lượng môi trường là một loại hàng hóa và nó có sự trao đổi mua bán trên thị trường. Tuy nhiên loại hàng hóa này có tính chất đặc thù : Có thể nó là hàng hóa mang tính cá nhân như tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng có thể là hàng hóa công cộng, không thể trao đổi mua bán như hàng hóa cá nhân như : nguồn nước, không khí, cảnh quan môi trường… Chính vì vậy kinh tế học môi trường cho rằng cần phải đánh giá những loại hàng hóa này phù hợp với giá trị của nó và nguyên lý tiếp cận trong kinh tế học cũng như môi trường.
Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường. Để đánh giá giá trị hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi trường dựa trên cơ sở nền tảng lý thuyết của kinh tế học và những vấn đề môi trường đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp dụng và phổ biến khá rộng rãi trên thế giới trong đó vấn đề cốt lõi cuối cùng là phải xác định cho được giá của môi trường trong bối cảnh của TEV mà môi trường mang lại. 19 Các phương pháp được sử dụng phổ biến: + Các phương pháp không sử dụng đường cầu: Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp khi đánh giá chất lượng môi trường người ta xác định dựa trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá mà không lập hàm cầu ( hàm lợi ích). Đây là những phương pháp không thể lập được hàm cầu, do đó không đo lường được phúc lợi thực tế nhưng thông tin lại rất hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách.
Nó bao gồm các phương pháp sau: - Phương pháp liều lượng đáp ứng. - Phương pháp chi phí thay thế - Phương pháp chi phí cơ hội - Phương pháp mô hình lựa chọn - Phương pháp dựa vào hàm sản xuất + Các phương pháp sử dụng đường cầu : Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để đánh giá giá trị chất lượng môi trường. Khi đánh giá giá trị chất lượng môi trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa trên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá cả. Đây là những phương pháp để đo lường phúc lợi.
Nó bao gồm những phương pháp sau: - Phương pháp chi phí du lịch ( TCM ). - Phương pháp mô hình đánh giá ngẫu nhiên ( CVM ). - Phương pháp đánh giá theo giá trị hưởng thụ ( HPM ).