CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE DU LICH SINH THÁI 1.1 Cơ sở lý luận du lich sinh thai 1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái Khái niệm về du lịch Du lịch là một hiện tượng phức tạp. Du lịch liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi của con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó. Trong quá trình phát triển, nội dung của khái niệm du lịch không ngừng mở rộng. Khó có thể nói định nghĩa nào là chính xác nhất, đầy đủ nhất.
Việc chúng ta chọn định nghĩa nảo sẽ tuỳ theo quan điểm, góc độ tiếp cận và mục đích sử dụng. Khái niệm về du lịch sinh thái “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa ban dia gắn với giáo duc môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tôn và phát triển bên vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Định nghĩa về DLST ở Việt Nam) Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng “quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một mặt góp phần vào việc thúc đây sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; mặt khác, nó cũng gây ra những “van dé” cho môi trường sinh thái: tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học đã và đang bị đe dọa đến mức báo động, các dạng tài nguyên môi trường đất, nước, không khí cũng đang trên đà suy thoái và ô nhiễm”. Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái.
Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được 10 giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thê chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tô cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng.2 Cac đặc trưng của du lịch sinh thái Những đặc trưng trưng cơ bản của khu du lịch sinh thái: Mỗi một điểm du lịch đều có 3 đặc trưng cơ bản nhất đó là: Tính giao thoa, chu trình sống và khả năng chịu tải (sức chứa). Tuy nhiên, đối với một khu vực phát triển DLST thì yếu tố bền vững là chủ đạo, vì vậy, khái niệm chu trình sống được đặt vào vị trí thứ yếu trong lãnh thổ DLST. Do đó, 2 đặc tính quan trọng trong lãnh thé DLST mà ta cần chú ý là: tính giao thoa và khả năng chịu tải (sức chứa).
Tính giao thoa hoá hợp nhưng độc lập tương đối ` Khả năng chịu tải (sức chứa) của điểm du lịch 1.13 Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 11.1 Nguyên tắc hòa nhập Sự xuông cap của môi trường hay sự thay đôi tập tục sinh hoạt văn hóa truyện thông của cộng đông địa phương đôi với một hoạt động nào đó sẽ trực tiêp làm mât đi sự cân băng sinh thái vôn có của khu vực và hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của du lịch sinh thái. Bảo vệ và phát huy văn hóa là nguyên tắc đặc biệt quan trọng mà hoạt DLST phải tuân thủ, bảo vệ các giá trị nhân văn là một bộ phận hữu cơ không thé tách rời các giá tri của môi trường, xã hội đối với một hệ sinh thái ở một nơi cụ thể. Nói cách khác, tính hấp dẫn và sự tồn tại của hoạt động du lịch sinh thái gắn liền với việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái điển hình, vì vậy một phần thu nhập của DLST cần phải được đầu tư cho việc hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh và những giải pháp hiệu quả bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái. Hoà nhập tự nguyện là một nguyên tắc hoạt động của DLST, khách du lịch sinh 11 thái phải hòa nhập một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên, vào môi trường văn hóa và xã hội theo đúng nghĩa của nó.
Ví dụ như phải châp nhận sự hạn chê của nó hơn là cải tạo biên đôi môi trường được thuận tiện theo ý muôn của cá nhân. Bản thân ngành du lịch với những hoạt động, thiết kế cũng nhằm hoà nhập với môi trường nhằm giúp du khách nhận thức hoà nhập với thiên nhiên và cộng đồng là những kinh nghiệm để tăng cường sự hiểu biết, tăng cường sự thông cảm, có thái độ tích cực và trách nhiệm hơn là đi tìm những gì mới lạ hay thỏa mãn những ý muôn, sở thích của cá nhân mình. Thái độ hòa nhập theo không khí nhiệt tình thái quá cũng có thể gây ra những tác động xấu mặc dù hành động này xuất phát từ mục đích tốt như: cho động vật hoang dã thức ăn sẽ làm chúng mắt đi khả năng tự tìm kiếm thức ăn hoặc trở nên quá thân thiện với con người, việc cho người dân địa phương tiền có thé làm thương mại hóa những hoạt động truyền thong cua họ. Do đó dù khách du lịch sinh thái đã có sự tự nguyện hòa nhập nhưng du khách vẫn cần sự giúp đỡ.
Cần được giáo dục để có sự nhận thức đúng về vai trò bảo tồn của mình nhằm thể hiện những hành vi tích cực đóng góp cho sự bảo tồn ngành du lịch sinh thái.2 Nguyên tắc kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái Mọi hoạt động của DLST đều hướng tới mục tiêu là bảo vệ tính bền vững nên ngoài đòi hỏi phải có nhận thức cao, kinh nghiệm tô chức và quản lý chặt chẽ thì nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Về mặt đạo đức và công bằng xã hội: Cộng đồng địa phương chính là chủ nhân thật sự của các nguồn tài nguyên du lịch (cả tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) mà ngành du lịch dựa vào dé thu hút du khách cho nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi thu được từ hoạt động mà ngành du lịch đem lại. Ở những khu vực được quy hoạch thành khu DLST, môi trường sống, phương thức tổ chức sản xuất truyền thống của cộng đồng địa phương thường it 12 nhiều bị ngăn cấm hoặc hạn chế như: Không còn được tự do chặt cây, phá rừng làm ray, việc khai thác và đánh bắt hải sản bị hạn ché. Do đó thu nhập của cuộc sống và van dé tồn tại của cộng đồng địa phương bị de doa vậy ngành du lịch sẽ khai thác được gì trong khu vực đang bị tranh chấp? Du lịch sinh thái còn quan tâm đến sự cân bằng đời sống xã hội của cộng đồng địa phương.
Đây cũng chính là sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch khác. Đối với DLST, lợi ích từ du lịch cần được phân bố rộng rãi đến các thành viên trong cộng đồng. Cá nhân những người tham gia trực tiếp và những người tham gia không trực tiếp. Phần lớn các mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng ít nhiều có liên quan đến việc phân chia lợi ích thu được từ du lịch.
Nếu không được hưởng lợi ích thì chính những thành viên trong cộng đồng sẽ là những người phá hoại tích cực đên các nguôn tài nguyên du lịch của cộng đông. Ngoài ra việc phân chia lợi ích cộng đồng trên sẽ góp phần làm giảm tính cạnh tranh không lành mạnh giữa những người tham gia làm du lịch. Đây là một trong những mối đe dọa tiềm ân đối với việc phát triển bền vững, Các chương trình phúc lợi và xã hội của cộng đồng cần phải đem đến lợi ích cho tất cả các thành viên trong cộng đồng. Tóm lại nguyên tắc có sự tham gia của cộng đồng địa phương vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái.
Nguyên tắc này tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác.3 Nguyên tắc qui mô Dưới góc nhìn của sinh thái học trong một hệ sinh thái, khi một sỐ lượng, một loài thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến những tác động làm thay đổi sự cân bằng của hệ sinh thái. Đối với hệ sinh thái nhân văn số lượng vai trăm hay vài ngàn du khách xuất hiện trong một ngày có thê tác động ít đến môi trường. Nhưng trong hệ sinh thái thiên nhiên, nơi còn người là một chủng loài có sô lượng nhỏ (thậm chí không 13 có trong khu thiên nhiên hoang sơ nguyên thủy) thì sự xuất hiện của vài chục người với hành vi của họ có thể là tác động rất lớn thậm chí có thể dẫn đến sự hủy hoại thế cân bằng của hệ sinh thái. Nguyên tắc qui mô không chỉ áp dụng cho các hoạt động du lịch thuần tuý, chúng cũng cần phải được áp dụng cho cộng đồng địa phương để không ảnh hưởng đến hệ thực vật, không ảnh hưởng đến hệ động vật hoang dã và cảnh quan, diện tích trồng trọt, vật nuôi.
Dưới góc độ xã hội nguyên tắc qui mô của cộng đồng địa phương còn là kiểm soát sự tăng dân số (trên cả hai phương diện sinh học và cơ học) nhằm thiết lập sự phát triển cân đối về kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương. Với đặc trưng khác biệt về nguồn gốc của sản phẩm DLST và tính chất bền vững của nó, trong những năm qua ở lĩnh vực hoạt động DLST trên phạm vi toàn thế giới, người ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị đóng góp vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái. - _ Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên. - _ Không được làm tốn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
- _ Tập trung vào các giá trị bên trong hon là các giá trị bên ngoài và thúc đây sự công nhận các giá tri này.