MỞ ĐẦU Bệnh gout là một bệnh rối loạn chuyển hóa base nhân purin ngày càng phổ biến và có xu hướng gia tăng. Cơ chế bệnh sinh của gout là do sự gia tăng nồng độ acid uric trong cơ thể, đồng thời cũng gia tăng nồng độ các gốc oxy hóa gây tổn thương tế bào. Bệnh gout nếu không được điều trị kịp thời không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn gây nên các biến chứng nặng nề trên các cơ quan khác chẳng hạn như tim và thận. Hiện nay, trong điều trị bệnh gout vẫn chủ yếu sử dụng các thuốc hóa dược để làm giảm acid uric máu, kháng viêm giảm đau.
Một trong các thuốc được chỉ định đầu tay hiện nay là allopurinol, tuy nhiên allopurinol lại có nhiều tác dụng phụ như tăng enzym gan, suy thận và đặc biệt là dị ứng nên theo khuyến cáo của ACR, trước khi chỉ định allopurinol, cân nhắc làm thử nghiệm HLA-B*5801, trên một số đối tượng có nguy cơ cao mẫn cảm với allopurinol. Tại Việt Nam tỷ lệ nhóm người này khoảng 18,6%.1 Trước những tác dụng phụ có hại allopurinol, xu hướng sử dụng các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu có hoạt tính ức chế enzym xanthin oxidase (XO) và có tác động kháng viêm nhằm hỗ trợ điều trị gout, giảm tác dụng phụ có nhu cầu rất lớn. Một số hợp chất được tìm thấy trong dược liệu như flavonoid (quercetin, luteolin, …), carotenoid đã được biết tới có khả năng ức chế enzym xanthin oxidase giúp làm giảm acid uric. Việc ức chế enzym xanthin oxidase cũng là một cơ chế chống oxy hóa hiệu quả do enzym xanthin oxidase sinh ra các gốc tự do superoxid, khi nồng độ các gốc tự do này quá cao sẽ gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, gây lão hóa và ung thư.2,3,4,5 Sao nhái hoa vàng (Cosmos sulphureus Cav.) là một loại cây cảnh được trồng nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đây là loài duy nhất trong chi Comos có hoa ăn được. Sao nhái hoa vàng là loại dược liệu được ứng dụng trong y học cổ truyền ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan bởi các chất chiết xuất từ loài này đã được chứng minh có tác dụng ức chế vi khuẩn, nấm và vi rút. Trên các thử nghiệm động. 2 vật cũng cho thấy hiệu quả với mô hình loét dạ dày, gan, viêm, hoặc sưng kiểu viêm khớp.6 Nhiều nghiên cứu trước đây đã phân lập được các hợp chất từ hoa SNHV có tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym XO vượt trội, rất tiềm năng sử dụng trong hỗ trợ điều trị gout.
Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác dụng điều trị gout trên các mô hình động vật thử nghiệm. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của Sao nhái hoa vàng cũng hạn chế tại Việt Nam và Quốc tế. Trên thị trường cũng chưa có chế phẩm nào bào chế từ Sao nhái hoa vàng. Đứng trước việc phát triển thuốc từ dược liệu đang được đẩy mạnh, Sao nhái hoa vàng lại được trồng ở khắp nơi nhưng chưa được khai thác tiềm năng làm thuốc chữa bệnh.
Do vậy, đề tài được xây dựng để nghiên cứu tác dụng điều trị gout từ hoa Sao nhái hoa vàng, từ các kết quả thử tác dụng dược lý được thực hiện tiếp tục phát triển quy trình để đưa đưa ra sản phẩm là viên nén. Đề tài được tiến hành với mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu điều chế viên nén chứa cao định chuẩn hoa Sao nhái hoa vàng (Cosmos sulphureus Cav.) hỗ trợ điều trị bệnh gout Mục tiêu cụ thể: 1. Nghiên cứu điều kiện chiết xuất cao định chuẩn Sao nhái hoa vàng 2. Đánh giá tác dụng sinh học của cao chiết định chuẩn hoa Sao nhái hoa vàng 3.
Xây dựng công thức bào chế viên nén từ cao định chuẩn hoa Sao nhái hoa vàng. Tổng quan bệnh gout và phương pháp nghiên cứu trong hỗ trợ điều trị gout 1. Đại cương bệnh gout Gout là bệnh khớp vi tinh thể, do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng acid uric máu, gây lắng đọng tinh thể monosodium urat ở các mô. Các triệu chứng lâm sàng chính là viêm khớp do gout, hạt tophi, bệnh thận do gout và sỏi tiết niệu.
Bệnh thường gặp ở các nước phát triển, chiếm khoảng 0,02 - 0,2% dân số, với 95% nam giới trong độ tuổi trung niên từ 30 - 40 tuổi. Nữ giới thường gặp ở độ tuổi 60 - 70 tuổi. Ở Việt Nam, gout chiếm 1,5% các bệnh về khớp được điều trị nội trú tại khoa Xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, đứng hàng thứ tư trong các bệnh khớp nội trú thường gặp. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh chính của bệnh gout là sự tích lũy acid uric ở mô, tạo nên các micro tophi.
Khi các hạt tophi tại sụn khớp bị vỡ sẽ khởi phát cơn gout cấp được đặc trưng bởi sự khởi đầu nhanh chóng của cơn đau, sưng và viêm. Các cơn thường bắt đầu ở khớp xương đơn lẻ, thường nhất là khớp ngón chân cái và sau đó theo thứ tự: mu bàn chân, mắt cá chân, gót chân, đầu gối, cổ tay, ngón tay và khuỷu tay. Sự lắng đọng vi tinh thể cạnh khớp, trong mô sụn và tại mô mềm, bao gân tạo nên hạt tophi và cuối cùng dẫn đến viêm thận kẽ (bệnh thận do gout) do tinh thể urat lắng đọng tại tổ chức kẽ của thận. Khi bị gout, ngoài acid uric máu tăng thì acid uric niệu cũng tăng và sự toan hóa nước tiểu dẫn đến sỏi tiết niệu trong bệnh gout.7 Tăng acid uric máu là yếu tố nguy cơ chính cho sự phát triển của bệnh gout, rối loạn chức năng thận, tăng huyết áp, tăng lipid máu, tiểu đường và béo phì, tuy nhiên chỉ có 25% các trường hợp tăng acid uric máu sẽ dẫn đến bệnh gout.
Con người là một trong số ít loài có men uricase không hoạt động, kết quả dẫn đến tăng nồng độ acid uric máu. Acid uric bảo vệ cơ thể chống lại quá trình thoái hóa bằng cách hoạt động tương tự chất chống oxy hóa. Nồng độ urat cao và trong các điều kiện nhất định. 4 sẽ kết tủa thành các tinh thể monosodium urat và khi những tinh thể này lắng đọng trong bao hoạt dịch, dịch khớp hoặc các mô khác có thể dẫn đến bệnh gout.
Do vậy, có thể nói nguyên nhân chính gây ra bệnh gout là hậu quả của tình trạng acid uric máu cao và vi tinh thể urat có vai trò chính trong cơ chế bệnh sinh của bệnh gout. Cơ chế bệnh sinh và tiếp cận điều trị gout9 Quá trình chuyển hóa acid uric là quá trình chuyển hóa base purin làm tăng acid uric nồng độ cao dẫn tới hệ quả tăng tích tụ tinh thể urat và gây nên các đợt viêm cấp. Trong quá trình chuyển hóa acid uric cũng đồng thời hình thành gốc tự do, từ đó gây các tác động bất lợi cho cơ thể như peroxy hóa màng tế bào, làm nặng nề tình trạng viêm. Do đó hướng tiếp cận điều trị bệnh gout bao gồm ba mục tiêu: mục tiêu chính trong điều trị gout là hạ acid uric máu, đồng thời khi xảy ra các cơn gout cấp cần sử dụng thêm các thuốc kháng viêm để điều trị.
Bên cạnh đó việc sử dụng thêm các hoạt chất chống oxy hóa cũng đóng góp vào hỗ trợ điều trị bệnh gout. Các mô hình nghiên cứu hạ acid uric máu in vivo trong điều trị gout Mô hình gây tăng acid uric máu bằng kali oxonat Nguyên tắc: Kali oxonat đã được chứng minh và sử dụng trên nhiều mô hình tương tự, có tác dụng ức chế uricase, một enzyme tham gia chuyển hóa purin, gây tăng sự tích tụ và nồng độ acid uric máu ở chuột.10 Allopurinol là một trong những. 5 loại thuốc đã được sử dụng điều trị cho bệnh nhân gout được lựa chọn làm thuốc đối chứng, hoạt động dựa trên cơ chế ức chế xanthine oxidase, ngăn cản quá trình tổng hợp acid uric diễn ra trong cơ thể. Đánh giá: Đo nồng độ acid uric máu ở các lô chuột sinh lý, bệnh lý, thuốc đối chứng và mẫu thử để đánh giá tác dụng hạ acid uric của mẫu thử.
Phạm vi áp dụng: Mô hình sử dụng tác nhân kali oxonat để gây tăng acid uric máu là mô hình sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Sử dụng tác nhân này để bố trí các thí nghiệm tác dụng hạ acid uric cấp tính và mãn tính nhằm đánh giá tác dụng của các mẫu thử cao chiết hoặc thuốc mới. Mô hình gây tăng acid uric máu bằng chế độ ăn Gout có thể do tăng acid uric nội sinh, do tổng hợp denovo (quá trình tổng hợp các nucleotid purin từ các phân tử nhỏ như phosphoribose, acid amin, CO2, .), thoái hóa acid nucleic hoặc ngoại sinh, do chế độ ăn uống. Purin trong chế độ ăn uống đóng góp gần một phần ba lượng purin hàng ngày.
Trong mô hình, chuột sẽ được gây tăng acid uric máu bằng chế độ ăn có hàm lượng purin cao trong 8 tuần. Chuột được uống 200 μl dung dịch purin hàm lượng cao có thành phần gồm hypoxanthin 200 mg/kg/ngày, chiết xuất nấm men 30 mg/kg/ngày, và kali oxonat 200 mg/kg/ngày. Trong thời gian thử nghiệm, trọng lượng chuột sẽ được theo dõi mỗi ngày. Mẫu phân được lấy từ mỗi con chuột khi kết thúc thử nghiệm và được lắng ở 80oC.
Sau đó chuột ở các lô thử nghiệm khác nhau (sinh lý, đối chiếu và nhóm dùng chất thử) sẽ được gây tê và lấy máu mí mắt để đo nồng độ acid uric. Một số phương pháp nghiên cứu kháng viêm in vivo Mô hình gây phù bàn chân chuột: Nguyên tắc: Sau khi tiêm vào bàn chân chuột các tác nhân gây viêm như formaldehyd, dextrin, albumin trứng, kaolin, sulfat polysaccharid (carrageenan, naphthoheparamin), các chất này kích hoạt phản ứng viêm, gây giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch. Kết quả của quá trình viêm này là hiện tượng phù bàn chân. Các thuốc có tác dụng chống viêm sẽ có khả năng ức chế hiện tượng phù.
Khi gây viêm bằng carrageenan, mức độ viêm tối đa trong thời gian 3 - 4 giờ; với aerosil và kaolin thời gian gây viêm có thể kéo dài đến 24 giờ hay 2 ngày. Do đó cần lựa chọn tác nhân gây viêm phù hợp với mục đích nghiên cứu, theo tác dụng chống viêm mạnh hay yếu, thời gian thuốc có tác dụng.12,13 Các chỉ tiêu đánh giá: So sánh mức độ phù chân chuột ở cùng thời điểm sau khi gây viêm giữa lô động vật được dùng mẫu thử và lô chứng để đánh giá tác dụng chống viêm của mẫu thử.