Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu điều chế than tre ứng dụng xử lý kim loại nặng trong nước thải

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu điều chế than tre ứng dụng xử lý kim loại nặng trong nước thải nhà máy mạ, góp phần bảo vệ môi trường.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2012

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: THAN HOẠT TÍNH CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Tổng quan về than tre

1.3. Điều chế than hoạt tính

1.4. Cấu trúc than hoạt tính

1.5. Những quy luật hấp phụ vật lý trên than hoạt tính

1.6. Động học hấp phụ

1.7. Sự hấp phụ trong dung dịch

1.8. Khái quát về nước thải mạ

1.9. Công nghệ mạ

1.10. Thành phần và tính chất nước thải mạ

1.11. Ảnh hưởng của nước thải mạ đến môi trường và sức khoẻ con người. Khái quát về các phương pháp xử lý nước thải mạ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp điều chế than hoạt tính từ tre

2.4. Phương pháp kế hoạch hoá thực nghiệm

2.5. Phương pháp thống kê toán học

2.6. Phương pháp xác định các chỉ tiêu, tính chất đặc trưng của than hoạt tính

2.7. Phương pháp xác định khả năng hấp phụ một số kim loại trong nước thải mạ của than hoạt tính

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Điều chế than hoạt tính

3.2. Xác định hàm ẩm của nguyên liệu

3.3. Quá trình than hoá

3.4. Nghiên cứu tối ưu một số yếu tố hoạt hoá trong quá trình điều chế than hoạt tính từ tre

3.5. Đánh giá các tính chất đặc trưng của than hoạt tính điều chế được

3.5.1. Tỷ trọng than hoạt tính

3.5.2. Diện tích bề mặt

3.5.3. Phân bố lỗ của than hoạt tính

3.6. Xác định khả năng hấp phụ một số kim loại nặng trong nước thải mạ (Cu, Ni, Zn)

3.6.1. Xây dựng đường chuẩn

3.6.2. Khảo sát ảnh hưởng của môi trường pH đến khả năng hấp phụ của than

3.6.3. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến khả năng hấp phụ của than

3.6.4. Tính toán dung lượng hấp phụ cực đại

3.6.5. Khảo sát ảnh hưởng của kích thước hạt đến khả năng hấp phụ của than

3.6.6. Khảo sát khả năng hấp phụ của than điều chế được đối với một số kim loại nặng (Cu, Zn, Ni) trong nước thải mạ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu điều chế than tre xử lý kim loại nặng

Nghiên cứu điều chế than tre để xử lý kim loại nặng trong nước thải đang trở thành một chủ đề nóng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nước thải công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng như Cu, Ni, Zn, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Việc sử dụng than tre làm vật liệu hấp phụ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này sẽ trình bày các phương pháp điều chế và ứng dụng của than tre trong xử lý nước thải.

1.1. Tại sao chọn than tre cho xử lý nước thải

Than tre là một nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ tiền tại Việt Nam. Với khả năng hấp phụ tốt, than tre có thể loại bỏ hiệu quả các kim loại nặng trong nước thải. Nghiên cứu cho thấy than tre có diện tích bề mặt lớn, giúp tăng cường khả năng hấp phụ.

1.2. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng tại Việt Nam

Ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải công nghiệp đang gia tăng tại Việt Nam. Các ngành công nghiệp như mạ, khai thác khoáng sản thải ra lượng lớn kim loại nặng. Nếu không được xử lý kịp thời, chúng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái.

II. Vấn đề ô nhiễm nước thải và thách thức xử lý

Ô nhiễm nước thải do kim loại nặng là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay. Nước thải từ các nhà máy mạ chứa nhiều kim loại nặng như Cu, Ni, Zn, có thể gây ra các bệnh lý nghiêm trọng. Việc xử lý nước thải không hiệu quả sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

2.1. Tác động của kim loại nặng đến sức khỏe

Các kim loại nặng như chì, thủy ngân có thể gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, rối loạn thần kinh. Việc tiếp xúc lâu dài với kim loại nặng có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho con người.

2.2. Các phương pháp xử lý nước thải hiện tại

Hiện nay, có nhiều phương pháp xử lý nước thải như lắng, lọc, và hấp phụ. Tuy nhiên, các phương pháp này thường tốn kém và không hiệu quả trong việc loại bỏ kim loại nặng. Do đó, cần tìm kiếm các giải pháp mới, hiệu quả hơn.

III. Phương pháp điều chế than tre hoạt tính hiệu quả

Điều chế than tre hoạt tính là một quá trình quan trọng để tạo ra vật liệu hấp phụ hiệu quả. Quá trình này bao gồm các bước như than hóa và hoạt hóa. Việc tối ưu hóa các điều kiện trong quá trình điều chế sẽ giúp tăng cường khả năng hấp phụ của than tre.

3.1. Quy trình than hóa và hoạt hóa

Quy trình than hóa diễn ra ở nhiệt độ từ 350 đến 500 độ C, trong khi hoạt hóa có thể sử dụng các tác nhân như hơi nước hoặc khí CO2. Quá trình này giúp tạo ra các lỗ xốp trong cấu trúc của than tre, từ đó tăng cường khả năng hấp phụ.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ

Nhiệt độ, thời gian và loại nguyên liệu là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của than tre. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa các yếu tố này có thể giúp tăng cường hiệu quả xử lý nước thải chứa kim loại nặng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của than tre trong xử lý nước thải

Việc ứng dụng than tre trong xử lý nước thải đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Nghiên cứu cho thấy than tre có khả năng hấp phụ cao đối với các kim loại nặng như Cu, Ni, Zn. Điều này mở ra hướng đi mới cho việc xử lý nước thải công nghiệp tại Việt Nam.

4.1. Kết quả nghiên cứu khả năng hấp phụ

Nghiên cứu cho thấy than tre có khả năng hấp phụ lên đến 80% các kim loại nặng trong nước thải. Điều này chứng tỏ rằng than tre là một giải pháp hiệu quả cho việc xử lý nước thải công nghiệp.

4.2. Thực tiễn ứng dụng tại các nhà máy

Nhiều nhà máy đã bắt đầu ứng dụng than tre trong quy trình xử lý nước thải. Kết quả cho thấy việc sử dụng than tre không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu điều chế than tre để xử lý kim loại nặng trong nước thải là một hướng đi mới đầy tiềm năng. Với nguồn nguyên liệu dồi dào và chi phí thấp, than tre có thể trở thành một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm nước tại Việt Nam. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển để tối ưu hóa quy trình điều chế và ứng dụng của than tre.

5.1. Tương lai của than tre trong xử lý môi trường

Với những lợi ích vượt trội, than tre có thể trở thành một vật liệu chính trong xử lý nước thải. Nghiên cứu và phát triển thêm các ứng dụng mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý và bảo vệ môi trường.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về khả năng hấp phụ của than tre đối với các chất ô nhiễm khác. Việc mở rộng ứng dụng của than tre trong các lĩnh vực khác cũng cần được xem xét để tối ưu hóa giá trị của nguồn nguyên liệu này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu điều chế than tre ứng dụng xử lý một số kim loại nặng trong nước thải nhà máy mạ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Than hoạt tính cấu trúc và tính chất. Giới thiệu chung Các nguyên liệu chứa các bon được chế biến một cách đặc biệt nhằm loại bỏ các chất có nhựa và tạo ra các lỗ xốp trong chúng được gọi là than hoạt tính. Than hoạt tính có thành phần chủ yếu là các bon (8590%), phần còn lại (515%) là các chất vô cơ [4, 5].

Than hoạt tính được điều chế từ các vật liệu khi đốt cháy cho ta các bon. Do vậy nguồn nguyên liệu khá phong phú. Ví dụ các nguyên liệu có nguồn gốc động vật như các loại xương, thịt, da. Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật như các loại cây, các loại quả, sọ dừa, gỗ, mạt cưa, có nguồn gốc từ than mỏ như than antraxit, than bùn, than nâu, than bán cốc, hoặc từ các hợp chất hữu cơ polime, licnhin, dầu mỏ.

Than hoạt tính được phát hiện và nghiên cứu vào thời gian cuối thế kỷ XVIII. Trong thế kỷ XIX than hoạt tính được sử dụng để lọc sạch khí và tẩy màu. Trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, lần đầu tiên than hoạt tính đã được sử dụng làm vật liệu lọc độc trong mặt nạ phòng độc [4, 5, 15]. Hiện nay than hoạt tính đã được sử dụng rộng rãi hầu khắp mọi lĩnh vực khoa học, quân sự và đời sống.

Tuỳ theo mục đích sử dụng, hiện có một số loại than hoạt như sau: than lọc khí hơi, than tẩy mầu, than lọc nước, than trao đổi ion. ở dạng hạt đập, hạt ép hoặc dạng bột. ở Việt Nam đã sử dụng than hoạt tính từ thời Pháp thuộc. Thời đó ở Việt Nam có 3 nhà máy đường, các nhà máy này đều sử dụng than hoạt tính để làm trắng đường.

Lúc đó Việt Nam chưa sản xuất được than hoạt tính, tất cả đều sử dụng than của Trung Quốc. Từ năm 1980 Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu chế tạo than hoạt tính. Công trình đầu tiên là của trường đại học Bách Khoa sản xuất than từ bã mía ở Việt Trì và ở Vạn Điểm. Cả hai công 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình này đều chỉ hoạt động được một thời gian rồi hư hỏng.

Sau này đại học Bách Khoa cũng nghiên cứu chế tạo lò sản xuất than Gáo dừa ở Bến Tre nhưng cũng không thành công. Năm 1985, xí nghiệp than hoạt tính của nhà máy phân đạm Bắc Giang ra đời với hệ thống lò quay theo công nghệ của Đức. Xí nghiêp này sản xuất than tảy màu từ than gỗ. Cho đến nay gần như nghỉ không sản xuất vì nó không thân thiện với môi trường.

Năm 1990, một xí nghiệp than hoạt tính được xây dựng ở Trà Vinh với công nghệ lò Yên ngựa của Trung Quốc. Nguyên liệu là than Gáo dừa và hiện nay vẫn còn hoạt động. Năm 2005, một xí nghiệp than hoạt tính được xây dựng ở Bến Tre với công nghệ lò quay của Hàn Quốc. Xí nghiệp này cũng dùng nguyên liệu là than Gáo dừa và hiện nay vẫn đang hoạt động.

Hiện nay, Việt Nam hàng năm tiêu thụ khoảng 30000 tấn than hoạt tính, số than này nhập từ nước ngoài là chủ yếu. Như vậy, ở Việt Nam việc nghiên cứu chế tạo và sản xuất than hoạt tính vẫn còn chưa được quan tâm, và nguyên liệu được dùng chủ yếu là than Gáo dừa [7]. Tổng quan về than tre. Tre thuộc loại cây nhiệt đới được trồng chủ yếu tại các nước Đông Nam á, một số ít được trồng tại Nam Mỹ và Châu Phi.

Tre là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được, khác hoàn toàn với nguồn tài nguyên hoá thạch không thể tái tạo được như than, dầu mỏ, khí thiên nhiên [1, 15]. Trước đây, việc sản xuất than hoạt tính đều dựa vào nguyên liệu là gỗ. Rừng ngày càng cạn kiệt, gỗ ngày càng đắt và đặc biệt việc khai thác rừng lấy gỗ làm ảnh hưởng đến môi trường, làm cho khí hậu trái đất ngày càng thay đổi, bởi vậy nhiều nước đã tập trung nghiên cứu sử dụng các nguyên liệu khác để thay thế gỗ. Có hai hướng quan trọng: sử dụng than khoáng và than từ tre luồng.

Do việc trồng thu hoạch và tái sinh rừng tre luồng không làm ảnh hưởng đến môi 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường mà lại kích thích trồng rừng và góp phần phát triển kinh tế, nên nhiều nước ở châu á đã đi vào sản xuất than từ tre luồng [7]. Việt Nam có nguồn nguyên liệu tre luồng rất dồi dào, đặc biệt là ở Thanh Hóa một tỉnh trồng tre nhiều nhất Việt Nam. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa thì hiện nay Thanh Hóa có diện tích trồng tre luồng khoảng 70000ha. Diện tích này tập trung ở 11 huyện miền núi với khoảng 1 triệu dân.

Hàng năm khai thác được khoảng 20 triệu cây. Đến hết năm 2007 ở Thanh Hóa đã có 49 cơ sở sản xuất chế biến hàng mỹ nghệ, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động [6]. Mặc dù tre vẫn là nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được sử dụng nhiều, nhưng nếu được nghiên cứu chế tạo làm than hoạt tính thì phạm vi ứng dụng sẽ tăng lên một cách rõ rệt và rất ý nghĩa trong lĩnh vực xử lý môi trường.Theo kinh nghiệm dân gian, than được chế tạo từ tre có khả năng kháng khuẩn và khử mùi, bột than tre có thể dùng để nuôi gia súc và cải tạo đất đai. Để tận dụng nguồn nguyên liệu này làm vật liệu hấp phụ, một số đơn vị đã sản xuất thử nghiệm than tre dưới sự giúp đỡ từ phía đối tác nước ngoài, sau đó lượng than này được xuất khẩu sang cho phía đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc.

Trước đây, than tre cũng đã được một số đơn vị khoa học nghiên cứu như Phân viện phòng chống vũ khí NBC, Trung tâm CNXL môi trường, và một số tác giả khác như: - Tác giả Phạm Thị Hà Phương (Đại học quốc gia Hà Nội) đã điều chế than tre trong phòng thí nghiệm tại viện Hóa học Quân sự. Tác giả than hóa hoạt hóa trong lò thí nghiệm và dùng than hoạt tính để xử lý nước thải sản xuất mây tre. Than hoạt tính từ tre được nghiêm cứu có thể làm giảm 80% DOC của nước thải. Đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác giả đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đại học tại trường đại học khoa học tự nhiên vào năm 2006.

- Tác giả Nguyễn Văn Sơn (đại học khoa học tự nhiên) [13] đã nghiên cứu điều chế than tre và ứng dụng than tre dạng hạt 2-5 ly để hấp phụ hơi hữu cơ (benzen, xylen, toluen. Tác giả đã thí nghiệm xác định thời gian bảo vệ của cột than tre (tiêu chuẩn quốc tế) theo benzen trên thiết bị thực nghiệm của Nga với chiều cao 5cm trong cột đường kính 2,5cm là 40 đến 60 phút. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam trong việc dùng than hoạt tính từ tre hấp phụ xử lý khí thải chứa dung môi hữu cơ. - Tác giả Trần Quang Sáng (viện Hóa học Quân sự) [12] đã sử dụng than hoạt tính từ tre được điều chế trong phòng thí nghiệm để hấp phụ NH 4+ trong nước.

Công trình này đã thu được kết quả xử lý được 80% NH 4+ trong nước, và tác giả bảo vệ luận văn cao học đề tài này năm 2006. Nhiều nước châu á hiện đang nghiên cứu và sản xuất than hoạt tính từ tre như Trung Quốc, ấn Độ, Bănglađét, Mianma, Malaysia. và họ đã có sản phẩm bán ra thị trường. Sau đây là một số công trình: - Tác giả Ken S.T, Lan Johnp, Bauford và Gordon Mckay ở Hồng Kông đã nghiên cứu than hoạt tính từ tre bằng kích hoạt axit photphoric cho than có bề mặt riêng rất cao khoảng 1800m2/g [22].

- Tác giả Taopksi, Asada, Ohkubo, Kuniaki, Kawata, và Kikuo oikawa ở trường đại học Tổng hợp Nhật Bản đã sử dụng than hoạt tính từ tre để hấp phụ amoni trong nước thải chứa axit [24]. - Tác giả Kenji Hosokawa , Takashi minamit ở Nhật Bản đã nghiên cứu ứng dụng than hoạt tính từ tre trong lĩnh vực bảo quản thực phẩm - Tác giả Fewu, RL Tseng ở ấn Độ đã nghiên cứu dùng than hoạt tính từ tre để xử lý thuốc nhuộm và phenol trong nước thải đệt nhuộm [18]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Asada , Sishihara ở Bănglađét đã nghiên cứu dùng than hoạt tính từ tre để làm sạch khí.

Các nghiên cứu về than tre hoạt tính còn ít và chưa cho thấy được hết các khả năng ứng dụng của than hoạt tính từ tre. Do đó, luận văn của tôi xin trình bày về việc nghiên cứu điều chế than tre cũng như ứng dụng than tre điều chế được để xử lý một số kim loại nặng trong nước thải mạ. Đây là vấn đề mới chưa có tác giả nào nghiên cứu trước đây và cũng có tính ứng dụng trong thực tiễn rất cao. Điều chế than hoạt tính Như đã biết nguồn nguyên liệu để điều chế than hoạt tính rất đa dạng và phong phú.

Công nghệ để điều chế than hoạt tính từ các nguồn nguyên liệu khác nhau cơ bản phải qua các công đoạn sau. Than hoá Mục đích của than hoá là dùng nhiệt để phân huỷ nguyên liệu đưa nó về dạng các bon, đồng thời làm bay hơi nước và một số hợp chất hữu cơ nhẹ tạo lỗ xốp ban đầu cho than. Chính lỗ xốp này là đối tượng cho quá trình hoạt hoá than. Đây là quá trình cháy để tạo các bon.

Vì vậy trong lò cần có một lượng không khí nhất định. Để tránh hiện tượng tro hoá người ta than hoá trong môi trường khí trơ, trong lò yếm khí hoặc chân không. Nhiệt độ than hoá 3505000C trong khoảng thời gian 35120 phút tuỳ vào nguyên liệu ban đầu. Nhiệt độ than hoá quá cao làm cho than bị trơ khó hoạt hoá.

Thời gian kéo dài lượng mất mát sẽ lớn, hiệu quả than hoá thấp [4, 5, 15]. Hoạt hoá Vì sao phải hoạt hóa? Ta biết rằng quá trình hấp phụ xảy ra trên một chất hấp phụ được quyết định bởi diện tích bề mặt riêng và tổng lỗ xốp mà trong 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó vai trò của lỗ bé là chủ yếu. Như vậy phải làm thế nào đó để diện tích bề mặt riêng và độ xốp tăng lên. Hoạt hoá là quá trình bào mòn mạng lưới tinh thể các bon dưới tác dụng nhiệt và tác nhân hoạt hoá, tạo độ xốp cho than một hệ thống lỗ có kích thước khác nhau, ngoài ra còn tạo các tâm hoạt động trên bề mặt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu điều chế than tre để xử lý kim loại nặng trong nước thải" trình bày một phương pháp hiệu quả để xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải bằng cách sử dụng than tre. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật quy trình chế biến than tre mà còn chỉ ra khả năng hấp phụ vượt trội của nó đối với các ion kim loại nặng, từ đó giúp cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức ứng dụng than tre trong xử lý nước thải, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp xử lý nước và ô nhiễm kim loại, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu khả năng xử lý cu2 trong nước bằng vật liệu hấp phụ chế tạo từ lõi ngô, nơi nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật liệu từ lõi ngô. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ hus nghiên cứu sử dụng điện cực paste cacbon biến tính bởi hgo để phân tích một số kim loại độc hại trong một số đối tượng môi trường bằng phương pháp von ampe hòa tan cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phân tích kim loại độc hại trong môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường.