Đặt vấn đề Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome) còn được gọi là “Bệnh Tai xanh”. Bệnh đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Khi mắc bệnh, lợn nái sảy thai hoặc đẻ sớm; lợn con sơ sinh yếu, chết thai, thở khó đôi khi có triệu chứng thần kinh, tỷ lệ chết cao; lợn thịt sốt, giảm ăn, sút cân; lợn đực chất lượng tinh giảm,… Từ 2007 - 2013, PRRS đã phát triển mạnh ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Đặc biệt ở tỉnh Bắc Ninh, trong năm 2010, dịch Tai xanh đã làm 64.073 lợn mắc bệnh, số tiêu hủy là 29.742 con, thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng.
Bệnh Tai xanh đã trở thành một hiểm họa đe dọa thường trực cho ngành chăn nuôi của tỉnh. Là một bệnh mới xuất hiện, trong khi việc nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh; đánh giá sự ảnh hưởng của bệnh tới năng suất chăn nuôi; xác định dương tính với virus; phân lập các vi khuẩn bội nhiễm gây viêm phổi như A. suis chưa được thực hiện. Việc sử dụng các phác đồ điều trị (gồm thuốc kháng sinh, thuốc trợ sức) và các biện pháp phòng chống dịch đã được Chi cục thú y tỉnh Bắc Ninh thực hiện một cách tích cực, song chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Như vậy, nguy cơ cũng như thiệt hại trong chăn nuôi lợn do dịch bệnh Tai xanh gây ra đối với Bắc Ninh là rất lớn.Vì vậy, việc xác định vai trò của vi khuẩn gây viêm phổi kế phát để có phác đồ điều trị hiệu quả là cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị ”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp điều trị bệnh Tai xanh cho lợn, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh Tai xanh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh.
- Phân lập vi khuẩn A. suis ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh. - Đề xuất một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả đề tài là những thông tin khoa học hoàn thiện thêm đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh, về vai trò của 3 loại vi khuẩn (A. suis) có khả năng gây viêm phổi kế phát trong bệnh Tai xanh ở lợn. Từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài giúp các địa phương hạn chế thiệt hại do dịch bệnh Tai xanh gây ra trên lợn, góp phần phát triển chăn nuôi lợn.
e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome (PRRS) còn gọi là “Bệnh Tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở mọi lứa tuổi đối với lợn do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc họ Arteriviridae gây ra trên lợn. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn lợn và gây ra những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: sốt, ho, thở khó.
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, lây sang lợn con theo mẹ làm lợn yếu ớt, tiêu chảy, rối loạn hô hấp tỷ lệ chết cao; lợn sau cai sữa, lợn thịt viêm phổi nặng, đực giống mất tính dục, chất lượng tinh kém. Đây là bệnh mới, phức tạp, lợn mắc bệnh dễ mắc các loại bệnh khác như: dịch tả lợn, phó thương hàn, tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, suyễn. Bệnh có thể có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước. Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987, rất nhanh chóng lan sang Canada, các nước vùng châu Âu.
Năm 1998 bệnh phát ra ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản. Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau: - Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS) - Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) (châu Mỹ) - Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS) - Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) - Bệnh Tai xanh (châu Âu). e 4 Năm 1991, Viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đã phân lập thành công virus. Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS) (Nguyễn Bá Hiên và cs (2007) [11]).
Cho đến nay, bệnh vẫn còn tồn tại và phát triển mạnh ở nhiều khu vực trên thế giới. Vì vậy từ khi xuất hiện tới nay, bệnh đã gây không ít thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi của thế giới. Nhận định của thế giới về PRRS là dịch địa phương của nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển, gây tổn thất rất lớn về kinh tế. Chưa có bất kỳ nước nào có thể thanh toán được PRRS.
Phân loại, cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn và các đặc tính sinh học Phân loại Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidovirales, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn ARN. Hiện nay, dựa vào phân tích cấu trúc gen, người ta đã xác định được 2 nhóm virus, nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm 4 phân nhóm (subtype) đã được xác định. Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định. Nhóm virus này được Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad - LV.
Nhóm II gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR - 2332); nhóm này phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992. Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40%, do đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này. Kết quả nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin.
Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú y (2008) [7]). e 5 Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau. Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ. Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs (2009) [14]; Nguyễn Văn Cảm và cs (2011) [5]; Cao Văn Thật và cs (2012) [30]).
* Hình thái và cấu trúc của PRRSV Dưới kính hiển vi điện tử PRRSV là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước từ 45 - 55nm, chứa nhân nucleocapsid có kích thước từ 30 - 35nm. Virus gây PRRS là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus. Sợi ARN này có kích thước khoảng 15 kilobase, có 9 ORF (open reading frame) mã hoá cho 9 protein cấu trúc. Tuy nhiên, có 6 phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành (2007) [27]).
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [12] cho biết sợi đơn RNA của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs. Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bảy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3, 4, 5, 6 và 7. ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả RNA phụ thuộc polymerase. Các khung đọc mở ORF2a, 3, 4 và 5 tất cả mã hóa cho các protein glycosyl hóa là GP2a, GP3, GP4, GP5 tương ứng.
Các ORF2b mới được định nghĩa mã hóa các protein nhỏ nhất của các hạt virus được chỉ định GP2b. ORF7 mã hóa các protein nuclocapsid không glycosyl hóa (N). e 6 * Đặc tính sinh học của virus Virus gây PRRS rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi. Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%).
Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng. Do vậy lợn mắc PRRS thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát. Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người. Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2 - 6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (WilliamT.