CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỒNG BÀO CHĂM KHU VỰC NAM TRUNG BỘ 1. Đặc điểm của đồng bào dân tộc Chăm khu vực Nam Trung Bộ 1. Nguồn gốc và phân bố dân cư Theo kết quả tổng điều tra dân số 1/7/2015, người Chăm ở Việt Nam có tổng cộng 167.128 người sống rải rác ở các tỉnh phía Nam như: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang.
Qua khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 4 tỉnh trong 8 tỉnh thuộc miền Nam Trung bộ với tiêu chí chủ yếu là những tỉnh tập trung đồng bào Chăm nhiều nhất để đại diện cộng đồng dân tộc Chăm miền Nam Trung bộ. Cụ thể [91]: - Ninh Thuận: 68.383 người, chiếm 40,9% tổng số người Chăm tại Việt Nam - Bình Thuận: 35.781 người, chiếm 21,4% tổng số người Chăm tại Việt Nam - Phú Yên: 21.274 người, chiếm 12,7% tổng số người Chăm tại Việt Nam.233 người, chiếm 3,7% tổng số người Chăm tại Việt Nam Về tổ chức cộng đồng, người Chăm thường sinh sống tập trung trong theo từng ấp, gọi là Puk. Mỗi Puk có khoảng 50 -100 nóc nhà, người đứng đầu Puk gọi là Ahly. Nhiều Puk hợp lại thành làng gọi là paley Cam (làng Chăm).
Mỗi paley có khoảng 300 đến 400 hộ gia đình, với khoảng 1000 – 2000 người, cùng theo một tôn giáo nhất định, gồm nhiều tộc họ sinh sống với nhau. Người Chăm dù theo tôn giáo nào, sau khi chết cũng được an táng vào nghĩa địa của tộc họ, tuy cách an táng và hình thức nghĩa địa tộc họ có khác nhau. Người Chăm Bàlamôn truyền thống, chủ yếu theo tục hóa táng thi thể người chết. Về nhà ở và hôn nhân gia đình, cấu trúc ở của người Chăm gồm quần thể nhà trong một khuôn viên.
Trong hôn nhân, chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng nữ thần vẫn tồn tại ở người Chăm. Cộng đồng người chăm vẫn còn bảo lưu nhiều tập tục văn hoá, 4 kinh nghiệm về chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng như các tập tục về sinh sản, chăm sóc sức khoẻ đối với các bệnh thông thường. Các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu và dịch tễ học bệnh tật của đồng bào dân tộc Chăm Sức khỏe của cá nhân và cộng đồng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kết hợp với nhau. Các yếu tố này có thể làm tăng hay giảm tình trạng sức khỏe của một cộng đồng hay một cá nhân.
Những yếu tố này giúp giải thích và dự đoán xu hướng sức khỏe và y tế trong tương lai, giải thích vì sao một số nhóm lại có sức khỏe tốt hơn hoặc kém hơn các nhóm khác. Ở đồng bào Chăm khu vực Nam Trung Bộ có một số yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu bệnh tật như thói quen hút thuốc, sử dụng rượu, điều kiện dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, phong tục tập quán. Hút thuốc lá, thuốc lào Khoảng 1,3 tỷ người trên thế giới hút thuốc và số người hút thuốc tiếp tục tăng. Trong số này, khoảng 84% sống ở các nước có nền kinh tế đang phát triển [158].
Thuốc lá là YTNC phổ biến thứ tư đối với bệnh tật và là nguyên nhân chính gây tử vong thứ hai trên toàn thế giới. Hút thuốc lá hiện đang gây ra cái chết của 1/10 người lớn trên toàn thế giới (khoảng 4,9 triệu người chết mỗi năm) [158]. Trong khi tỷ lệ sử dụng thuốc lá đã giảm ở một số quốc gia có thu nhập cao, thì tỷ lệ này đang gia tăng ở một số quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi và phụ nữ. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư đặc biệt là ung thư phổi và có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), ĐTĐ, các bệnh nguy hiểm và không gây tử vong khác [158].
Lạm dụng rượu Tình trạng uống rượu ở miền núi rất phổ biến. Uống rượu đã trở thành thói quen hàng ngày của mọi người dân trong bản từ già đến trẻ không phân biệt phụ nữ hay nam giới. Theo WHO, uống rượu là YTNC hàng đầu đối với gánh nặng bệnh tật ở các nước đang phát triển và là YTNC lớn thứ ba ở các nước phát triển [158]. Phong tục tập quán Tập quán làm nhà ở sát vạt rừng, cửa rừng: Đồng bào các DTTS có tập quán sản xuất, canh tác dựa hoàn toàn vào nương rẫy, đồng bào thường làm chòi ở ngay sát cửa rừng, vạt rẫy có nguy cơ phơi nhiễm với các bệnh sốt rét (SR), sốt xuất huyết.
Mời thầy cúng khi bị bệnh: Hầu hết các DTTS hiện vẫn còn tập quán mời thầy mo, thầy cúng khi bị bệnh, tuy nhiên với từng dân tộc mức độ có thể khác nhau. Tập quán sinh con tại nhà rất phổ biến ở các DTTS, tính chung trên tất cả các DTTS, có khoảng 64% các ca sinh được thực hiện ở CSYT. Trong khi đó, vẫn còn đến một nửa các DTTS lựa chọn sinh con tại nhà là phương pháp chủ yếu. Sinh con tại các CSYT khá phổ biến ở các dân tộc Ngái, Hoa, Khmer, Chơ Ro, Sán Dìu, Chăm, Chu Ru, Tày, Cơ Ho và Tà Ôi (trên 80% các ca sinh).
Ngược lại, ở các dân tộc La Hủ, Si La, La Ha, Lự, Mảng, Hà Nhì, 80% các ca sinh được thực hiện tại nhà [91]. Kết hôn sớm và hôn nhân cận huyết thống là hai vấn đề nổi cộm đối với DTTS nói chung và dân tộc Chăm nói riêng. Nhìn chung, người DTTS thường kết hôn sớm và tỷ lệ tảo hôn cao. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 21 tuổi, thấp hơn gần 4 tuổi so với mức chung của cả nước [91].
Tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống trung bình là 6,5‰, đáng chú ý ở một số dân tộc, tỷ lệ này rất cao. Cụ thể, tỷ lệ hôn nhân cận huyết của người Mạ, Mảng và Mông lên đến trên 40‰. Một số dân tộc khác có tỷ lệ kết hôn cận huyết cao bao gồm Stiêng (36,7‰), Cơ Tu (27,7‰), Khơ Mú (25‰); Các dân tộc có tỷ lệ hôn nhân cận huyết từ 10‰ đến dưới 20‰ như: Cơ Ho (17,8‰), Chứt (16,8‰), Kháng (16‰), Khmer (15,9‰), Chăm (15,6‰) [91]. Hôn nhân cận huyết thống là vấn đề cần đặc biệt chú ý với các dân tộc thiểu số.
Hôn nhân cận huyết thống có thể gây ra nhiều hậu quả trong đó có vấn đề tử vong trẻ sơ sinh cao, nguy cơ thu hẹp quy mô dân số và cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa làm giảm tuổi thọ của các dân tộc và có liên quan đến tình trạng nghèo trong một số dân tộc. Hiểu biết về bảo vệ sức khỏe còn hạn chế Tỷ lệ người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) để khám chữa bệnh không cao. Tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT của người Chăm đạt 65,4% cao hơn tỷ lệ trung bình sử 6 dụng thẻ BHYT của đồng bào DTTS chỉ đạt 44,8%, nhưng còn thấp hơn so với tỷ lệ chung của cả nước [91]. Tỷ lệ phụ nữ đến các CSYT để khám thai chưa cao và chưa phổ biến ở một số dân tộc.
Có khoảng 70,9% phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất một lần tại các CSYT. Phụ nữ đi khám thai tại các CSYT phổ biến ở một số dân tộc như Tà Ôi, Hoa, Cơ Ro, Chu Ru, Chăm, Khmer, Chơ Ro, Mường, Tày, Ngái, Mạ (khoảng 80 - 88,5%). Trong khi đó, ở một số dân tộc, tỷ lệ phụ nữ được khám thai rất thấp, các dân tộc có tỷ lệ dưới 50%, thấp nhấp: La Hủ (9,1%), Hà Nhì (25,4%), Si La (25,5%), La Ha (31,9%), Mảng (34,9%) và Mông (36,5%). Điều này cũng một phần giải thích tại sao các dân tộc này thuộc nhóm có tỷ suất tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi cao nhất [91].
Đa số các nhóm DTTS có tỷ lệ hộ sử dụng nhà xí hợp vệ sinh rất thấp. Số liệu cho thấy, trung bình 27,9% số hộ DTTS có nhà xí hợp vệ sinh, thấp hơn nhiều so với số liệu thống kê trung bình của cả nước (71,9%). Tỷ lệ thấp hộ DTTS sử dụng nhà xí hợp vệ sinh là xu hướng chung diễn ra ở đa số nhóm DTTS. Đến năm 2015 chỉ 7 nhóm DTTS trong số 53 DTTS đạt chỉ tiêu 40% số hộ có nhà xí hợp vệ sinh, bao gồm các dân tộc: Bố Y (40%), Lự (40.3%), Ngái (56%), Chơ Ro (63.
Trong khi điều kiện nhà vệ sinh đạt chuẩn của hộ DTTS còn khá thấp, điều kiện tiếp cận nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày của nhóm hộ DTTS tương đối cao nhưng có sự chênh lệch giữa các DTTS khác nhau (54,3% ở đồng bào Dân tộc Chăm) [91]. Trung bình, 73,3% số hộ DTTS đã tiếp cận đến nguồn nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày (94,8% số hộ dân tộc Chăm) [91]. Tuy nhiên, về lâu dài người DTTS phải được tiếp cận và sử dụng nước sạch đạt chuẩn (thay cho nước chỉ đạt tiêu chí hợp vệ sinh), chỉ tiêu này hiện nay còn rất thấp. Khó khăn khi giao tiếp bằng tiếng phổ thông Sự khác biệt về ngôn ngữ giao tiếp cũng là một trong những rào cản làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ CSSK của đồng bào các DTTS nói chung và đồng bào dân tộc Chăm nói riêng.
Người DTTS biết đọc, biết viết tiếng phổ thông chưa cao, có nhiều dân tộc hơn một nửa dân số mù chữ. Trung bình chỉ có 79,2% người DTTS biết 7 đọc, biết viết tiếng phổ thông. Sự chênh lệch này khá lớn giữa các dân tộc. Các dân tộc có tỷ lệ người biết đọc, biết viết tiếng phổ thông đạt trên 90% bao gồm: Mường, Thổ, Tày, Sán Dìu, Ngái, Ơ Đu, Hoa, Sán Chay.
Ở nhóm dưới, 7 dân tộc có tỷ lệ người biết đọc, biết viết thấp nhất, hơn 50% không biết chữ (Hà Nhì, Cơ Lao, Brâu, Mông, Mảng, Lự, La Hủ) [91]. KHÁI NIỆM CƠ CẤU BỆNH TẬT VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CẤU BỆNH TẬT 1. Khái niệm cơ cấu bệnh tật, phân loại bệnh tật theo ICD 10 1. Khái niệm cơ cấu bệnh tật Cơ cấu bệnh tật là kết cấu phần trăm các nhóm bệnh của các bệnh.
Cơ cấu bệnh tật là kết cấu phần trăm các nhóm bệnh của các bệnh qua nhiều năm. Cơ cấu bệnh tật của một khu vực trong một giai đoạn chính là kết cấu phần trăm của các nhóm bệnh tật, các bệnh của khu vực trong giai đoạn đó [10]. Cơ cấu bệnh tật chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố và khác nhau giữa các khu vực với những đặc điểm đặc thù riêng.