Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số hiểu biết chung về bệnh phù đầu Bệnh phù đầu được mô tả lần đầu tiên vào năm 1938 bởi Shanks dựa trên các quan sát của ông qua nhiều năm ở Ireland (theo tổng hợp của Nguyễn Xuân Bình và CS 2002 [1]. Năm 1947, lần đầu tiên Timoney tạo hội chứng phù bằng cách tiêm truyền động vật thí nghiệm dịch ruột của lợn chết vì Edema disease. Năm 1953, Schofield đã sử dụng tên “nhiễm độc huyết độc tố ruột” để chỉ tên bệnh cho sát nghĩa (Nguyễn Xuân Bình và cs.
“Bệnh phù” (Edema Disease) đầu tiên được gọi do vết sưng dưới niêm mạc của dạ dày và niêm mạc kết tràng thường là nét đặc trưng nổi bật của bệnh. Theo Martin Bergeland và Harold Kurtz (1996) [12] phù thũng là sự tích đọng nhiều nước dịch ở các tổ chức trong cơ thể được gọi là “Bệnh phù thũng” hoặc “bệnh phù ruột”. Dịch tích đọng ở thành dạ dày và thành ruột hoặc dưới mi mắt và ở nhiều bộ phận khác của cơ thể, song ở não là quan trọng nhất và gây ra các triệu chứng lâm sàng. Năm 1947, Konowalchuk và cs.
đã thành công trong việc chứng minh E. coli gây Edema disease bằng độc tố và đặt tên cho độc tố này là Verotoxin (VT). Ngày nay, người ta gọi độc tố này là Shiga - Like toxin - IIv (SLT - IIv). Schofield và Davis (1955) thông báo về sự xuất hiện số lượng lớn vi khuẩn Escherichia coli dung huyết trong ruột lợn con chết vì bệnh phù đầu.
Awad, Msalmed và cs (1998) đã nghiên cứu sự bám dính của vi khuẩn E. coli ở lợn con bị bệnh tiêu chảy sau cai sữa và bệnh phù đầu.K De Graf (1978) phân lập và xác định đặc tính đặc trưng của kháng nguyên K88.A Hawkins (1996) [64] đánh giá hiệu quả của carbadox, neomycine và oxytetracline trong sự kiểm soát vi khuẩn đường ruột của lợn. Trong suốt thời gian dài, khi Edema disease chưa được nghiên cứu thì nó sẽ gây thất thu lớn cho ngành chăn nuôi công nghiệp. Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện khá phổ biến vào những năm 90 và đã gây thiệt hại khá nghiêm trọng về kinh tế.
Vài năm gần đây bệnh xuất hiện trở lại và đang là một bệnh đáng chú ý đối với ngành chăn nuôi nước ta. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Bệnh do vi khuẩn E. coli gây ra đã được nhiều nhà thú y trong nước rất quan tâm.
Nguyễn Lương và cs. coli gây bệnh ỉa chảy cho lợn con là O55, O111, O26, O86, O119. Nghiên cứu sâu về vi khuẩn E. coli gây bệnh phân trắng lợn con đã được nhiều nhà vi sinh vật thú y tiến hành.
Từ những nghiên cứu, tác giả đã đi đến kết luận, ngoài yếu tố stress gián tiếp gây bệnh phân trắng lợn con như thời tiết thức ăn, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn E. Để hạn chế tác hại của E. coli đối với lợn con, người ta tập nghiên cứu nhiều về vắc xin E. coli phòng bệnh.
Trước đây vắc xin phòng bệnh E. coli được chế từ một số chủng vi khuẩn phân lập được ở Việt Nam, dùng vắc xin tiêm cho lợn chửa ở giai đoạn 2 kết hợp với một số quy trình phòng bệnh tổng hợp như sưởi ấm lợn con, cho lợn con uống Biolactin để phòng bệnh phân trắng lợn con, thu được một số kết quả nhất định. Nhằm nâng cao hiệu lực của vắc xin, Nguyễn Thị Nội dùng một số chủng vi khuẩn EC3, EC25, EC26, EC236, chứa kháng nguyên K88 của Hungari để chế vắc xin theo phương pháp cải tiến, tiêm vắc xin cho lợn mẹ tạo miễn dịch truyền kháng thể cho lợn con qua sữa đầu có hiệu lực phòng bệnh cho lợn con từ 35,2% đến 55,8%. Ngoài ra, vắc xin E.
coli còn có tác dụng làm chậm thời gian mắc bệnh của lợn con, tạo điều kiện cho lợn con có sức đề kháng tốt hơn, ít mắc bệnh hơn, tỷ lệ chết thấp hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn và tăng trọng của lợn con cũng tốt hơn từ 0,23 kg – 0,41 kg/ngày so với đối chứng. Để phòng bệnh tiêu chảy lợn con, Nguyễn Thị Nội và Nguyễn Ngọc Nhiên (1993) căn cứ vào tần xuất xuất hiện của các vi khuẩn đường ruột như E. coli, Streptococcus, Salmonella nghiên cứu từ bệnh phẩm lợn bị tiêu chảy để chọn các giống E. coli, Streptococcus, Salmonella nghiên cứu để chế tạo vacxin đa giá gọi là vắc xin Salsco phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con, tiêm cho lợn từ 21 ngày tuổi liều từ 3-5ml /con, hai lần cách nhau 10 ngày, vắc xin này làm giảm tỷ lệ lợn bị tiêu chảy từ 30-50% và giảm tỷ lệ chết của lợn do tiêu chảy từ 30-50% và giảm tỷ lệ chết do tiêu chảy từ 10-20%.
5 Lê Văn Tạo (1993) [20] dựa trên cơ sở xác định yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E. coli phân lập từ bệnh phẩm lợn con chết do phân trắng, đã chọn ra các giống E. coli điển hình để chế tạo ra vắc xin chết dạng Bacterin cho lợn con. Sau khi đẻ 2 giờ uống một liều 1ml liên tục 3-5 ngày, giảm tỷ lệ lợn con phân trắng 30-50% so với đối chứng.
Dùng phương pháp kháng sinh đồ để theo đánh giá hiệu lực của kháng sinh sinh của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ lợn bị bệnh phân trắng ở các tỉnh phía Bắc, Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1996) [27] đã rút ra những nhận xét. - Tính kháng thuốc của vi khuẩn E. coli với một số kháng sinh thường dùng đã tăng lên rõ rệt với tốc độ nhanh.
- Một số thuốc trước đây có hiệu quả với E. coli hầu như không có tác dụng, cụ thể penicillin, streptomicin, chloramphenicol… - Tỷ lệ chủng vi khuẩn E. coli kháng nhiều loại kháng sinh tăng nhanh, có nhiều loại kháng gần hết các loại kháng sinh thường dùng. Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995) [26] kiểm tra một số yếu tố ảnh hưởng tới tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.
coli phân lập từ bệnh lợn con ỉa phân trắng đã cho rằng việc sử dụng thuốc trong phòng trị bệnh khác nhau đã dẫn đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc khác nhau. coli kháng thuốc cao thì tỷ lệ E. coli đa kháng cũng cao. Tính kháng thuốc của E.
coli có liên quan đến tuổi của lợn bị bệnh Lợn dưới 4 ngày tuổi mắc bệnh có tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn ở lứa tuổi trên 4 ngày tuổi. coli có khuẩn lạc dạng R có tính kháng thuốc cao hơn dạng S. Cù Hữu Phú và cs. (2000) [18] đã phân lập được 60 chủng E.
coli sản sinh ra 2 độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố không chịu nhiệt (LT). Ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, tác giả đã dùng 4 chủng E. coli gây dung huyết và 3 chủng Salmonella có độc lực mạnh sản sinh độc tố để sản xuất Auto vắc xin phòng bệnh tiêu chảy, đạt tỷ lệ phòng bệnh 81,22%. Nguyễn Khả Ngự (2000) [16] đã xác định yếu tố gây bệnh của E.
coli trong bệnh phù đầu lợn con nuôi tại đồng bằng Sông Cửu Long, đã phân lập được 90 chủng E. coli có đầy đủ các đặc tính sinh hóa điển hình. Tác giả cho rằng tỷ lệ lợn con mắc bệnh phù đầu là 58,78%, tỷ lệ lợn chết chiếm 31,94%. 6 Tô Minh Châu và Nguyễn Ngọc Hải (1999) [2] bước đầu phân lập và định danh vi khuẩn E.
coli gây bệnh phù đầu ở lợn con. Sau cai sữa ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, kết quả thu được là 2 serotype E. coli chủ yếu phân lập được từ bệnh phẩm lợn phù đầu gồm O138, K81, O139 K82 và có tới 46,52% số chủng không định được type. Các tác giả cũng tìm thấy 25,58% số chủng vi khuẩn phân lập được mang kháng nguyên K88, 32,23% chủng có khả năng dung huyết, các chủng đều có khả năng kháng kháng sinh, nhưng chưa xác định được độc tố của các chủng.
Nguyễn Ngọc Hải và Amilon (2000) [8] đã ứng dụng kỹ thuật PCR trong nghiên cứu vi khuẩn E. coli gây phù đầu trên lợn sau cai sữa cho rằng vi khuẩn E. coli có khả năng tạo độc tố Verotoxin, một số chủng sản sinh ra độc tố đường ruột ST, LT và chỉ gặp các chủng E. coli thuộc nhóm kháng nguyên O141, rất ít ở nhóm kháng nguyên O139 và O138.
Như vậy, trong thời gian qua ở nước ta những nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn E. coli gây ra và tính kháng thuốc của chúng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu ở bệnh phân trắng lợn con, bệnh tiêu chảy và bệnh phù đầu ở lợn con. Các tác giả đã khẳng định được nguyên nhân, cơ chế gây bệnh, một số đặc tính sinh vật hóa học, độc tố và tính kháng thuốc trị bệnh. Các tác giả đã khẳng định rằng.
Khi tiến hành điều trị bệnh do vi khuẩn E. coli gây nên cần chọn loại thuốc đặc hiệu, ít bị vi khuẩn kháng thuốc. Mặt khác vi khuẩn E. coli có khả năng di truyền tính kháng kháng sinh của mình cho nhiều vi khuẩn đường ruột khác bằng cách tiếp hợp, gây khó khăn cho việc điều trị bằng kháng sinh, nhất là đối với những quy định sử dụng thuốc kháng sinh tốt trong việc phòng, trị bệnh gia súc, gia cầm, để ngăn chặn sự gia tăng các giống vi khuẩn kháng kháng sinh, làm giảm tác dụng điều trị cũng như tương lai.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều công trình đề tài nghiên cứu vi khuẩn E. coli và các bệnh do chúng gây ra.Trong những năm gần đây, bệnh do E. coli gây ra vẫn đang là mối quan tâm của nhiều tác giả. 7 Theo Peterson(1980) vi khuẩn E.
coli cũng như vi khuẩn khác trước đây được coi là vi khuẩn cộng sinh, thường trực trong đường ruột của gia súc và người. Nhưng qua thực tế nghiên cứu các bệnh đường ruột, sinh sản hô hấp đều thấy luôn có mặt vi khuẩn này, từ đó đi đến khẳng định vai trò gây bệnh quan trọng của E. coli và đi sâu nghiên cứu những bệnh do nó gây ra, đặc biệt là nghiên cứu những yếu tố gây bệnh. Theo Sokol (1981) sở dĩ vi khuẩn E.
coli vai trò cộng sinh thường trực trong đường ruột trở thành vi khuẩn gây bệnh vì trong quá trình sống cá thể vi khuẩn tiếp nhận được các yếu tố gây bệnh mà theo ông đó là các yếu tố gây dung huyết (Hly) yếu tố cạnh tranh (Colv) các yếu tố bám dính (K88, K99) yếu tố độc tố đường ruột (Ent), yếu tố kháng kháng sinh (R).