Luận án tiến sĩ về di động xã hội trong cộng đồng khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên đề di động xã hội trong cộng đồng khoa học tại ..., tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong khoa học

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2009

248
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.4. Cơ sở lý luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

1.4.1. Hệ khái niệm công cụ

1.4.2. Di động xã hội

1.5. Một số lý thuyết vận dụng nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học

1.5.1. Lý thuyết cấu trúc - chức năng

1.5.2. Lý thuyết xung đột xã hội

1.5.3. Lý thuyết phát triển

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN DI ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1. Giới thiệu khái quát về ĐHQGHN

2.1.1. Sự hình thành và cơ cấu tổ chức

2.1.2. Sứ mệnh và mục tiêu phát triển của ĐHQGHN

2.2. Cán bộ khoa học (Giảng viên và Nghiên cứu viên)

2.2.1. Nhận diện di động xã hội của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

2.2.2. Di động xã hội không kèm di cư (hiện tượng đa vị thế - vai trò) của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

2.2.3. Di động dọc của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

2.2.4. Di động kèm di cư của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

2.2.5. Hiện tượng di động xã hội ra khỏi và vào ĐHQGHN của cộng đồng khoa học

2.2.6. Di động ngang của cộng đồng khoa học ĐHQGHN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về di động xã hội trong cộng đồng khoa học

Di động xã hội là một khái niệm quan trọng trong xã hội học, chỉ sự thay đổi vị trí của cá nhân hoặc nhóm trong cấu trúc xã hội. Trong bối cảnh cộng đồng khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, di động xã hội không chỉ phản ánh sự thay đổi trong địa vị nghề nghiệp mà còn liên quan đến sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nghiên cứu này nhằm nhận diện các loại hình di động xã hội của cộng đồng khoa học, từ đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự di động này. Đặc biệt, sự chuyển mình từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức đã tạo ra những thách thức và cơ hội mới cho nhân lực khoa học. Theo đó, việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực khoa học trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Tầm quan trọng của di động xã hội

Di động xã hội trong cộng đồng khoa học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy. Sự di động này không chỉ giúp các nhà khoa học tiếp cận với những cơ hội mới mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Theo nghiên cứu, những cá nhân có khả năng di động xã hội cao thường có xu hướng tham gia vào các dự án nghiên cứu lớn, từ đó nâng cao giá trị của bản thân và đóng góp cho sự phát triển chung của ĐHQGHN. Việc nhận diện và phân tích các loại hình di động xã hội sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình nhân lực khoa học, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng khoa học.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến di động xã hội của cộng đồng khoa học tại ĐHQGHN. Các yếu tố này bao gồm trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, và môi trường làm việc. Đặc biệt, trình độ học vấn cao thường đi kèm với khả năng di động xã hội tốt hơn. Những cá nhân có học vị cao như Tiến sĩ hay Giáo sư thường có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế hoặc hợp tác với các tổ chức khoa học khác. Hơn nữa, môi trường làm việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự di động xã hội. Một môi trường làm việc cởi mở, khuyến khích sáng tạo sẽ giúp các nhà khoa học dễ dàng hơn trong việc thay đổi vị trí và vai trò của mình.

2.1. Tác động của trình độ học vấn

Trình độ học vấn là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng di động xã hội của nhân lực khoa học. Những nghiên cứu cho thấy, các nhà khoa học có trình độ học vấn cao thường có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia vào các dự án nghiên cứu lớn và nhận được sự công nhận từ cộng đồng khoa học. Điều này không chỉ giúp họ nâng cao vị thế cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển chung của ĐHQGHN. Việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhân lực khoa học chất lượng cao sẽ tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững của khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

III. Thực trạng di động xã hội tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Thực trạng di động xã hội trong cộng đồng khoa học tại ĐHQGHN hiện nay cho thấy sự đa dạng và phức tạp. Nhiều nhà khoa học đã có sự di động xã hội đáng kể, từ việc chuyển đổi vị trí công tác đến việc tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, như sự thiếu hụt trong việc quản lý nhân lực khoa học và các chính sách hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả. Sự di động xã hội không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN. Cần có những giải pháp cụ thể để điều chỉnh và quản lý di động xã hội một cách hiệu quả hơn.

3.1. Những thách thức trong quản lý di động xã hội

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc quản lý di động xã hội tại ĐHQGHN là sự thiếu hụt thông tin và dữ liệu về nhân lực khoa học. Việc không có một hệ thống thông tin rõ ràng về các nhà khoa học và các dự án nghiên cứu đã gây khó khăn trong việc theo dõi và đánh giá sự di động xã hội. Hơn nữa, các chính sách hiện tại chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng khoa học, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực và chất xám. Để khắc phục tình trạng này, cần có một chiến lược tổng thể nhằm cải thiện quản lý nhân lực khoa học, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự di động xã hội.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 2: Nhận diện di động xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội của cộng đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. 22 PHAN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CUU Nội dung nghiên cứu chính của luận án chủ yếu đi tìm các luận cứ để minh chứng cho các giả thuyết trên dựa trên cơ sở của các phương pháp nghiên cứu xã hội học và các lý thuyết xã hội học. Trên cơ sở lý luận về di động xã hội, luận án sẽ tập trung đi vào nhận diện các hình thức di động xã hội của CDKH ĐHQGHN, cũng như xác định tầm vóc, mức độ và đưa ra một số dự báo xu hướng của các hình thức di động đó. Luận án sẽ tập trung vào nghiên cứu các hiện tượng di động xã hội theo lĩnh vực hoạt động, hiện tượng đa vị thế việc làm, nghề nghiệp, di động giữa các nganh/linh vực đào tạo, di động xã hội theo chiéu doc và sự phân tầng mức sống, di động xã hội vào DHQGHN và ra khỏi DHQGHN (liên quan đến quá trình “chảy não”, “chảy chất xám”).

Luận án cũng sé tập trung đi vào phân tích các tác động dương tính, âm tính hay tác động ngoại biên của từng loại hình di động xã hội và dưa vào các lý thuyết xã hội học để phân tích, lý giải các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng di động xã hội trên. Từ những phân tích về thực trạng và nguyên nhân của di động xã hội của CDKH trên cơ sở của việc phân tích chính sách KH&CN, luận án sẽ khuyến nghị các giải pháp quản lý, định hướng các “luồng” di động xã hội trong khoa học cho phù hợp với định hướng của các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và chủ trương của ĐHQGHN nhằm góp phần phát triển KH&CN, tạo sự phát triển hợp lý giữa các ngành khoa học, tránh lãng phí chất xám, tạo nguồn lực khoa học để phát triển đất nước. 23 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG XÃ HỘI CUA CONG DONG KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trong xã hội học chủ đề di động xã hội đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.Durkheim với công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình về hiện tượng tự tử đã coi di động xã hội như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tự tử, cả di động đi lên và di động đi xuống. Sau này Warren Breed cũng quan tâm nghiên cứu mối liên hệ này. Trong những năm đầu thế kỷ XX, nhà xã hội hoc Mỹ Sorokin đã bàn về di động xã hội khá hệ thống. Sorokin cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên-xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới vị trí của mình trong trật tự xã hội.

Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế-xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra di động xã hội. [51; tr 3] Những quan tâm nghiên cứu di động xã hội của Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng di động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại 6. Khi nghiên cứu di động xã hội trong xã hội Mỹ, được trình bày trong cuốn “Xã hội học”, LJ.Zelznick đã sử dung bốn tiêu chí để xác định tính chất của di động xã hội.

Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thdi quen, văn hoá, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự di động xã hội. Ngoài ra còn có nhiều tác giả đề cập đến di động xã hội như: Anthony Giddens “Tính di động xã hộ” (trong Introductory Sociology); Elekxander Matejko: “Các điều kiện tâm lý xã hội của lao động trong các nhóm khoa học”; Stuart S.Blume: “Sự phân tang và các chuẩn mực khoa học” (trong Toward a political Sociology of Science) Các tác giả và tác phẩm sau đây đều có dé cập đến di động xã hội ở những giác độ khác 24 nhau: Neil J.Smelser: “Sociology” (1988); Joel M.Charon: “Sociology Aconceptual approach” (1989); The new introducing Sociology (1992); Harold R.Kerbo: “Social Stratification and Inequality” (1996). Các nghiên cứu về su di động xã hội của những tác giả nêu trên cho thấy có bốn nhân tố rất quan trong tac động đến mức độ di động xã hội là: xã hội nghiên cứu là xế hội mở hay đóng-tức là có nhiều cơ hội di chuyển hay không; nền tang kinh té giáo dục và văn hóa của gia đình và nhóm. Tuy nhiên, Tony Bilton lại tiếp cận vấn dé nghiên cứu với quan điểm khác ông cho rằng, trong xã hội công nghiệp, các cá nhân có thể di động từ địa vị này sang địa vị khác bằng nỗ lực cá nhân.

Trong xã hội đó, địa vị xã hội của cá nhân không nhất thiết có quan hệ với địa vị xã hội của gia đình, nguồn gốc. Cá nhân di động đi lên hay đi xuống là nhờ vào tai năng [51; tr 3-4]. Stephen Aldridge, nhà xã hội học người Anh trong nghiên cứu về di động xã hội ở Anh đã đưa ra những rào cản của sự di động xã hội là: ¢ Trinh độ học vấn; » Su nghèo đói thời thơ ấu, và mối liên quan giữa sự tiến bộ về tam lý và lối cư XỬ; * Gia đình va cách dạy dỗ con cái của các gia đình bao gồm tài chính, các vấn dé về vốn văn hóa và xã hội. Chúng không chỉ là tiền bạc mà còn lối cư xử, giá trị ảnh hưởng tới các cơ hội sau này; » Thai độ, kỳ vọng, khát vọng bao gồm cả việc tránh né rủi ro; và * _ Các rào cản về kinh tế và các rào cản khác mà các nhóm thường dùng để “dành dụm cơ hội” ví dụ như các hành động thiếu tính cạnh tranh như luật lệ để nhằm phân biệt đối xử với các nhóm khác.

Trong nghiên cứu của minh, Sami Mahroum cho rằng di động là “sự di chuyển vật lý và địa lý qua biên giới và sống trên đất nước khác trong khoảng thời gian không dưới một năm”. Theo ông, vấn đề di động gắn bó mật thiết với địa lý của tri thức và sự 25 di chuyển của khoa học. Di động khoa học sẽ dẫn đến những thay đổi trong khoa học. Ông dẫn ra ba kịch bản của Hoch và Platt về tác động của di động khoa học bao gồm: - Su đồng nhất đi cùng với các dạng tương tự như nhau trong đa dạng.

Theo kịch bản này, các truyền thống khoa học của các quốc gia (hay truyền thống khoa học của các khu vực) sẽ gần tương tự nhau và trở nên tương tự với truyền thống khoa học của các quốc gia khác. - _ Hội tụ các truyền thống khoa học của các quốc gia đi cùng với sự mở rộng vượt ra khỏi quốc gia của các ý tưởng riêng biệt của các cá nhân. - _ Quyền lãnh đạo đi cùng với phân phối bình quân trong khoa học giữa các quốc gia, khu vực. Theo quan điểm này, ý nghĩa của di động khoa học phụ thuộc vào: - Tai năng của các cá nhân tham gia di động, - _ Sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực mà họ xuất phát.

Tài năng, và sự khác biệt càng lớn thì di động khoa học càng có ý nghĩa. Mặt khác, cũng đòi hỏi sự biến đổi tri thức để “hấp thụ” những tri thức mới khi được áp dụng vào một quốc gia, khu vực. Sami Hahroum cũng chỉ ra rằng di động khoa học không chỉ dẫn đến sự thay đổi trong khoa học mà còn là tác nhân của sự mở rộng khoa học. Sự mở rộng này diễn ra như thế nào? Tác giả phân tích: di động khoa học thúc đẩy cơ hội để các cá nhân hay tổ chức trở thành điểm trung tâm có uy tín về khoa học trong khu vực hay ngành.

Sau khi hình thành, những “cực” khoa học như vậy sẽ có uy tín, từ đó rút ngắn không gian và thời gian cho việc giao tiếp trong khoa hoc. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng số lượng các nhà khoa học du nhập đến một địa chỉ khoa học xác định tăng lên khi uy tín của địa chỉ đó tăng cao trong giới khoa học. Như vậy, di động khoa học và uy tín của tổ chức phụ thuộc và củng cố lẫn nhau. Thực tế chỉ ra rằng uy tín - của cá nhân hay tổ chức - là nhân tố chính ẩn sau việc chuyển giao tri thức với mức độ tin cậy lớn, thông qua thời gian và không gian.

Việc nhìn nhận sự dịch chuyển của khoa học thông qua việc di động của các nhà khoa học là cách tiếp cận có nhiều gợi ý cho sự xác định vị trí của các trung tâm khoa học trong 26 tương lai, chủ yếu thông qua tác động đến sự phân bố nhân sự chất lượng cao nói chung và các nhà khoa học nói riêng. Theo kết luận của nghiên cứu, việc hình thành các cực, các vệ tinh, các trung tâm, cũng như các vùng ngoại biên của khoa học trong một lĩnh vực khoa học nào đó, ở cấp độ toàn cầu, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân phối các nhà khoa học và các học giả giữa các trung tâm và các vùng ngoại biên. Sự hình thành các cực khoa học đôi khi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các chính sách công của các quốc gia khác nhau. Chính sách nhập cư khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học nước ngoài sẽ ảnh hưởng tốt đến di động khoa học, kích thích sự lưu chuyển của các học giả và các nhà nghiên cứu.

Theo nhóm tác giả này, các hàng hóa thông thường có đầy đủ hai tính chất là: tính “kinh địch” và tính “loại trừ”! còn hàng hóa công là hàng hóa “phi kình địch” và “phi loại trừ”. Tri thức khoa hoc được các nhà kinh tế học phát triển và các tài liệu khoa học về kinh tế phân tích là có cả hai đặc tính của hàng hóa công. Những nghiên cứu mới nhất về kinh tế của khoa học không nhìn nhận “tri thức khoa học” là một loại hàng hóa thuần nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu di động xã hội trong cộng đồng khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội" khám phá sự phát triển và ảnh hưởng của các nền tảng di động xã hội trong việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa các nhà khoa học. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ để tăng cường sự hợp tác và giao tiếp trong cộng đồng nghiên cứu, từ đó thúc đẩy sự phát triển tri thức và đổi mới sáng tạo. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng hiện tại mà còn chỉ ra những lợi ích mà các nhà nghiên cứu có thể thu được từ việc áp dụng các công cụ di động xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội, nơi bàn về những thách thức trong việc giao tiếp hiệu quả trong môi trường học thuật. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ giai pháp thu hút giảng viên trình độ cao tại truong dai hqc hai duong cũng có thể cung cấp những góc nhìn thú vị về việc thu hút nhân tài trong lĩnh vực giáo dục. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Developing discussion skills for efl second year students luận án thạc sĩ, một tài liệu hữu ích cho việc phát triển kỹ năng giao tiếp trong môi trường học tập. Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh khác nhau của nghiên cứu và giáo dục.