Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 2: Nhận diện di động xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội của cộng đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. 22 PHAN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CUU Nội dung nghiên cứu chính của luận án chủ yếu đi tìm các luận cứ để minh chứng cho các giả thuyết trên dựa trên cơ sở của các phương pháp nghiên cứu xã hội học và các lý thuyết xã hội học. Trên cơ sở lý luận về di động xã hội, luận án sẽ tập trung đi vào nhận diện các hình thức di động xã hội của CDKH ĐHQGHN, cũng như xác định tầm vóc, mức độ và đưa ra một số dự báo xu hướng của các hình thức di động đó. Luận án sẽ tập trung vào nghiên cứu các hiện tượng di động xã hội theo lĩnh vực hoạt động, hiện tượng đa vị thế việc làm, nghề nghiệp, di động giữa các nganh/linh vực đào tạo, di động xã hội theo chiéu doc và sự phân tầng mức sống, di động xã hội vào DHQGHN và ra khỏi DHQGHN (liên quan đến quá trình “chảy não”, “chảy chất xám”).
Luận án cũng sé tập trung đi vào phân tích các tác động dương tính, âm tính hay tác động ngoại biên của từng loại hình di động xã hội và dưa vào các lý thuyết xã hội học để phân tích, lý giải các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng di động xã hội trên. Từ những phân tích về thực trạng và nguyên nhân của di động xã hội của CDKH trên cơ sở của việc phân tích chính sách KH&CN, luận án sẽ khuyến nghị các giải pháp quản lý, định hướng các “luồng” di động xã hội trong khoa học cho phù hợp với định hướng của các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và chủ trương của ĐHQGHN nhằm góp phần phát triển KH&CN, tạo sự phát triển hợp lý giữa các ngành khoa học, tránh lãng phí chất xám, tạo nguồn lực khoa học để phát triển đất nước. 23 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG XÃ HỘI CUA CONG DONG KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trong xã hội học chủ đề di động xã hội đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.Durkheim với công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình về hiện tượng tự tử đã coi di động xã hội như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tự tử, cả di động đi lên và di động đi xuống. Sau này Warren Breed cũng quan tâm nghiên cứu mối liên hệ này. Trong những năm đầu thế kỷ XX, nhà xã hội hoc Mỹ Sorokin đã bàn về di động xã hội khá hệ thống. Sorokin cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên-xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới vị trí của mình trong trật tự xã hội.
Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế-xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra di động xã hội. [51; tr 3] Những quan tâm nghiên cứu di động xã hội của Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng di động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại 6. Khi nghiên cứu di động xã hội trong xã hội Mỹ, được trình bày trong cuốn “Xã hội học”, LJ.Zelznick đã sử dung bốn tiêu chí để xác định tính chất của di động xã hội.
Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thdi quen, văn hoá, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự di động xã hội. Ngoài ra còn có nhiều tác giả đề cập đến di động xã hội như: Anthony Giddens “Tính di động xã hộ” (trong Introductory Sociology); Elekxander Matejko: “Các điều kiện tâm lý xã hội của lao động trong các nhóm khoa học”; Stuart S.Blume: “Sự phân tang và các chuẩn mực khoa học” (trong Toward a political Sociology of Science) Các tác giả và tác phẩm sau đây đều có dé cập đến di động xã hội ở những giác độ khác 24 nhau: Neil J.Smelser: “Sociology” (1988); Joel M.Charon: “Sociology Aconceptual approach” (1989); The new introducing Sociology (1992); Harold R.Kerbo: “Social Stratification and Inequality” (1996). Các nghiên cứu về su di động xã hội của những tác giả nêu trên cho thấy có bốn nhân tố rất quan trong tac động đến mức độ di động xã hội là: xã hội nghiên cứu là xế hội mở hay đóng-tức là có nhiều cơ hội di chuyển hay không; nền tang kinh té giáo dục và văn hóa của gia đình và nhóm. Tuy nhiên, Tony Bilton lại tiếp cận vấn dé nghiên cứu với quan điểm khác ông cho rằng, trong xã hội công nghiệp, các cá nhân có thể di động từ địa vị này sang địa vị khác bằng nỗ lực cá nhân.
Trong xã hội đó, địa vị xã hội của cá nhân không nhất thiết có quan hệ với địa vị xã hội của gia đình, nguồn gốc. Cá nhân di động đi lên hay đi xuống là nhờ vào tai năng [51; tr 3-4]. Stephen Aldridge, nhà xã hội học người Anh trong nghiên cứu về di động xã hội ở Anh đã đưa ra những rào cản của sự di động xã hội là: ¢ Trinh độ học vấn; » Su nghèo đói thời thơ ấu, và mối liên quan giữa sự tiến bộ về tam lý và lối cư XỬ; * Gia đình va cách dạy dỗ con cái của các gia đình bao gồm tài chính, các vấn dé về vốn văn hóa và xã hội. Chúng không chỉ là tiền bạc mà còn lối cư xử, giá trị ảnh hưởng tới các cơ hội sau này; » Thai độ, kỳ vọng, khát vọng bao gồm cả việc tránh né rủi ro; và * _ Các rào cản về kinh tế và các rào cản khác mà các nhóm thường dùng để “dành dụm cơ hội” ví dụ như các hành động thiếu tính cạnh tranh như luật lệ để nhằm phân biệt đối xử với các nhóm khác.
Trong nghiên cứu của minh, Sami Mahroum cho rằng di động là “sự di chuyển vật lý và địa lý qua biên giới và sống trên đất nước khác trong khoảng thời gian không dưới một năm”. Theo ông, vấn đề di động gắn bó mật thiết với địa lý của tri thức và sự 25 di chuyển của khoa học. Di động khoa học sẽ dẫn đến những thay đổi trong khoa học. Ông dẫn ra ba kịch bản của Hoch và Platt về tác động của di động khoa học bao gồm: - Su đồng nhất đi cùng với các dạng tương tự như nhau trong đa dạng.
Theo kịch bản này, các truyền thống khoa học của các quốc gia (hay truyền thống khoa học của các khu vực) sẽ gần tương tự nhau và trở nên tương tự với truyền thống khoa học của các quốc gia khác. - _ Hội tụ các truyền thống khoa học của các quốc gia đi cùng với sự mở rộng vượt ra khỏi quốc gia của các ý tưởng riêng biệt của các cá nhân. - _ Quyền lãnh đạo đi cùng với phân phối bình quân trong khoa học giữa các quốc gia, khu vực. Theo quan điểm này, ý nghĩa của di động khoa học phụ thuộc vào: - Tai năng của các cá nhân tham gia di động, - _ Sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực mà họ xuất phát.
Tài năng, và sự khác biệt càng lớn thì di động khoa học càng có ý nghĩa. Mặt khác, cũng đòi hỏi sự biến đổi tri thức để “hấp thụ” những tri thức mới khi được áp dụng vào một quốc gia, khu vực. Sami Hahroum cũng chỉ ra rằng di động khoa học không chỉ dẫn đến sự thay đổi trong khoa học mà còn là tác nhân của sự mở rộng khoa học. Sự mở rộng này diễn ra như thế nào? Tác giả phân tích: di động khoa học thúc đẩy cơ hội để các cá nhân hay tổ chức trở thành điểm trung tâm có uy tín về khoa học trong khu vực hay ngành.
Sau khi hình thành, những “cực” khoa học như vậy sẽ có uy tín, từ đó rút ngắn không gian và thời gian cho việc giao tiếp trong khoa hoc. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng số lượng các nhà khoa học du nhập đến một địa chỉ khoa học xác định tăng lên khi uy tín của địa chỉ đó tăng cao trong giới khoa học. Như vậy, di động khoa học và uy tín của tổ chức phụ thuộc và củng cố lẫn nhau. Thực tế chỉ ra rằng uy tín - của cá nhân hay tổ chức - là nhân tố chính ẩn sau việc chuyển giao tri thức với mức độ tin cậy lớn, thông qua thời gian và không gian.
Việc nhìn nhận sự dịch chuyển của khoa học thông qua việc di động của các nhà khoa học là cách tiếp cận có nhiều gợi ý cho sự xác định vị trí của các trung tâm khoa học trong 26 tương lai, chủ yếu thông qua tác động đến sự phân bố nhân sự chất lượng cao nói chung và các nhà khoa học nói riêng. Theo kết luận của nghiên cứu, việc hình thành các cực, các vệ tinh, các trung tâm, cũng như các vùng ngoại biên của khoa học trong một lĩnh vực khoa học nào đó, ở cấp độ toàn cầu, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân phối các nhà khoa học và các học giả giữa các trung tâm và các vùng ngoại biên. Sự hình thành các cực khoa học đôi khi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các chính sách công của các quốc gia khác nhau. Chính sách nhập cư khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học nước ngoài sẽ ảnh hưởng tốt đến di động khoa học, kích thích sự lưu chuyển của các học giả và các nhà nghiên cứu.
Theo nhóm tác giả này, các hàng hóa thông thường có đầy đủ hai tính chất là: tính “kinh địch” và tính “loại trừ”! còn hàng hóa công là hàng hóa “phi kình địch” và “phi loại trừ”. Tri thức khoa hoc được các nhà kinh tế học phát triển và các tài liệu khoa học về kinh tế phân tích là có cả hai đặc tính của hàng hóa công. Những nghiên cứu mới nhất về kinh tế của khoa học không nhìn nhận “tri thức khoa học” là một loại hàng hóa thuần nhất.