Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm du lịch Có rất nhiều khái niệm về du lịch. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX “Du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số người thuộc tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội” [8]. Khi đó, khách du lịch vẫn tự do lấy việc đi lại và ăn ở của mình và người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn, dành riêng cho tầng lớp quý tộc, giàu có trong xã hội: “Du lịch là hiện tượng những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác” [6]. Thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người đã được tổ chức Du lịch thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada, Úc chấp thuận.
Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, số lượng du khách ngày càng nhiều và khái niệm đi du lịch càng ngày càng mang tính quần chúng hoá. Do đó, nhu cầu về chỗ ăn, ở, vui chơi giải trí… cho du khách ngày càng cao và trở nên cấp thiết. Ngày nay, du lịch không những là hiện tượng nhân văn mà còn là hoạt động kinh tế: “Du lịch là toàn bộ những hoạt động và công việc được phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách” [6]. Du lịch càng phát triển thì những hoạt động này càng phong phú và gắn bó với nhau hơn tạo nên một ngành “Công nghiệp du lịch” mà sự phát triển của nó gắn liền với nhịp độ phát triển du lịch.
Cho đến nay du lịch được hiểu không chỉ là hoạt động nhân văn, hoạt động kinh tế mà còn là một ngành công nghiệp: Đặng Thúy Hà 6 Luận Văn Thạc Sĩ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế & Quản lý “Du lịch là toàn bộ các mục tiêu biến các nguồn lực thành sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách” [6]. Các khái niệm trên mới chỉ mô tả du lịch theo hiện tượng bên ngoài của nó. Để phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nhất về khái niệm của du lịch như sau: “Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch” [6]. Trong hoạt động kinh doanh du lịch, tuỳ theo đối tượng và mục đích chuyến đi của du khách người ta thường chia ra thành các chuyên đề, loại hình du lịch cụ thể như: Du lịch thuần tuý, du lịch kinh doanh, du lịch sinh thái v.v… Ngoài ra, người ta còn có thể chia nhỏ hơn các chuyên đề, loại hình du lịch trên như: Du lịch nghiên cứu văn hoá ẩm thực, nghiên cứu văn hoá lịch sử, nghệ thuật (cả một đất nước, một vùng)… Tuy nhiên, các chương trình du lịch được xây dựng có thể không chỉ đơn thuần một chuyên đề hoặc một loại hình, mà nó có thể được xây dựng kết hợp theo yêu cầu của du khách.2 Khái niệm các bộ phận hợp thành và đặc điểm sản phẩm du lịch * Khái niệm sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi những bộ phận hợp thành.
Đó là dịch vụ lưu trú, dịch vụ đi lại, dịch vụ ăn uống, dịch vụ giải trí, dịch vụ mua sắm v.v… “Những du khách khác nhau bao giờ trong chuyến đi du lịch cũng có những nhu cầu khác nhau. Điều chung nhất là sản phẩm du lịch mang lại cho họ là sự hài lòng” [8]. Sự hài lòng này không phải là sự hài lòng như khi người ta mua một loại sản phẩm vất chất cụ thể mà là sự hài lòng về khoảng thời gian và cảm giác của mình đã đạt được: Đặng Thúy Hà 7 Luận Văn Thạc Sĩ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế & Quản lý “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và những phương tiện vật chất nhằm cung cấp cho du khách một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [6]. * Các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch: gồm 04 bộ phận - Dịch vụ vận chuyển: Đưa du khách từ vùng cư trú đến nơi du lịch, bao gồm nhiều loại phương tiện vận chuyển du khách như: Ô tô, tàu hoả, máy bay, tàu thủy… - Dịch vụ lưu trú: Đảm bảo cho du khách nơi ăn, ở trong quá trình thực hiện chuyến du lịch của mình và du khách có thể chọn một trong những khả năng sau: Khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, cắm trại… - Dịch vụ mua sắm: Đi du lịch mua sắm cũng là một cách giải trí.
Nhưng đồng thời, việc nhiều du khách mang về một ít vật kỉ niệm của chuyến đi là không thể thiếu được. Nó bao gồm các hình thức mua sắm tại quầy hàng lưu niệm, hàng tạp hoá, hàng mỹ nghệ. Nhìn chung, du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp. Toàn bộ kỹ nghệ du lịch dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, những công trình kiến trúc, những tài nguyên văn hoá để thu hút khách như: các điều kiện thuận lợi về khí hậu, về tự nhiên cũng như các di tích lịch sử, di sản văn hoá v.v… Ngày nay, hiện tượng đi du lịch đã trở thành phổ biến.
Sự kết nối tất cả các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch và thương mại hoá như: Công tác marketing, đại lý phân phối… có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt là sự đứng ra tổ chức kết nối và thương mại hoá của T.O (Tour Operators) đã tạo kiện thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Các dịch vụ này được gọi là dịch vụ trung gian. * Những đặc điểm của sản phẩm du lịch: - Sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn những nhu cầu đặc biệt (khám phá, tìm hiểu bản sắc dân tộc…).
- Sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu cao của con người. Con người có thể không đi du lịch cũng được, nhưng không thể thiếu những nhu Đặng Thúy Hà 8 Luận Văn Thạc Sĩ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế & Quản lý cầu sinh lý (ăn, uống…). Chính vì vậy du lịch là một yêu cầu cao nên hệ số co giãn cầu của sản phẩm du lịch rất cao. - Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng thời gian và địa điểm của việc sản xuất ra chúng (quá trình tiêu dùng sản phẩm trùng với quá trình sản xuất sản phẩm).
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ (có ngày, có mùa, có tháng du khách đến rất đông và ngược lại). Tính thời vụ này chủ yếu bị ảnh hưởng bởi thời gian nghỉ của các cán bộ, công nhân viên, sinh viên, học sinh… Cũng như tính chất của vùng du lịch, đặc điểm khí hậu của từng vùng. - Sản phẩm du lịch chủ yếu là sản phẩm phi vật chất, do đó sản phẩm du lịch không có nhãn hiệu. Vì vậy không có độc quyền về sản phẩm du lịch.
Như vậy, với tính chất đặc thù riêng vốn có, sản phẩm du lịch khác xa các sản phẩm vật chất cụ thể của ngành sản xuất vật chất khác. Những đặc điểm này đã làm nên tính đặc thù của hoạt động du lịch.3 Khái niệm về tiềm năng du lịch Theo từ điển tiếng Việt thì “tiềm năng” có nghĩa là: Khả năng, năng lực tiềm tàng [5]. Còn “tiềm tàng” lại có nghĩa là trạng thái bên trong chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực (nguồn sức mạnh tiềm tàng, khai thác những khả năng tiềm tàng…) [5]. Tiềm năng là một thuật ngữ mang tính khá trừu tượng, chúng ta có thể hiểu “tiềm năng” là khả năng, năng lực ẩn giấu có thể khai thác được theo một mục đích nào đó.
Trong hoạt động du lịch, khái niệm về tiềm năng du lịch được nhiều giáo trình định nghĩa. Trên khía cạnh có tính học thuật khái quát thì tiềm năng du lịch là: “Những tài nguyên du lịch chưa khai thác hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và đưa vào sử dụng” [6]. Còn trên khía cạnh có tính nghiệp vụ cụ thể, giáo trình thống kê du lịch đã định nghĩa: “Tiềm năng du lịch của một nước (hoặc vùng lãnh thổ) là những điều kiện tự nhiên và những di sản lịch sử thuận lợi cho việc xây dựng những cơ sở du lịch. Ngoài ra, tiềm năng du lịch còn có trong các công trình xây Đặng Thúy Hà 9 Luận Văn Thạc Sĩ Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế & Quản lý dựng lớn và đẹp, những quần thể kiến trúc hiện đại.
Tiềm năng có thể được khai thác một phần hoặc chưa được khai thác do những hạn chế nhất định” [4]. Người ta thường phân chia tiềm năng du lịch theo các loại hình sau: Tiềm năng ở dạng tài nguyên tự nhiên; tiềm năng ở dạng lịch sử; tiềm năng ở những công trình đương đại xuất hiện do quá trình xây dựng kinh tế và văn hoá đã và đang diễn ra. Tiềm năng còn có ở phần nguồn khách du lịch như các thị trường tiềm năng chưa khai thác… 1.4 Khái niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đời sống con người. Theo nghĩa rộng “tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu (materials) năng lượng (energy), thông tin (information) có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình” [3].
Những tài nguyên nào có thể sử dụng cho phát triển du lịch đều coi là tài nguyên du lịch. “Tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” [8]. Tài nguyên thường được phân chia thành tài nguyên tự nhiên (natural resources) gắn liền với các yếu tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn (human resources) gắn liền với các yếu tố con người và xã hội.