Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến Dòng họ 1. Khái niệm Dòng họ là một hiện tượng lịch sử - văn hóa mang tính phổ quát, xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại và tồn tại ở mọi nền văn hóa.
Trên thế giới, đã từ lâu, dòng họ trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học với các phân nhánh chuyên sâu: sử học, triết học, di truyền học, nhân chủng học, dân tộc học, xã hội học, gia phả học… Về mặt ngôn ngữ tiếng Việt thì Họ là tên chung một dòng cùng một ông tổ mà con cháu khi đặt tên con đều phải dùng để đứng trước tên, ví dụ: họ Lê, họ Đào, họ Nguyễn, … Khi nói đến Dòng họ được hiểu là những người cùng chung một họ. Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski (2020) định nghĩa: “tộc hay dòng họ tập hợp toàn thể con cháu bên nội của cùng một ông tổ được thừa nhận”. Nguyễn Từ Chi (2003) quan niệm: “Họ, quá lắm cũng chỉ có thể xem là một dạng đặc biệt của gia đình mở rộng, mà tác dụng chính đối với các thành viên của nó (tức là các gia đình nhỏ hợp thành nó) là tạo ra một niềm cộng cảm dựa trên huyết thống”. Phan Đại Doãn (2003) viết: “Theo nghĩa rộng thì dòng họ, ngoài mối liên hệ ngang lại có mối liên hệ dọc đứng đến 9 đời (cửu tộc), ngoài ra còn có quan hệ nội ngoại, nhưng huyết thống bên nội là quan hệ quyết định nhất”.
Điểm lại một số định nghĩa tiêu biểu nêu trên ta thấy, về cơ bản, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất khi khẳng định: dòng họ là một thiết chế xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống do khởi sinh từ một thủy tổ. Trong mối quan hệ đồng huyết này, các cá nhân bao gồm cả người đang sống và người đã chết đều mang tộc danh về phía bố. Chỉ mang tộc danh về phía bố nên người Việt thường coi trọng họ nội. m 5 Tuy nhiên, chính mối quan hệ quan trọng nhất - mối quan hệ huyết thống đó đã khiến dòng họ người Việt hình thành hàng loạt mối quan hệ khác: quan hệ kinh tế với chế độ lưu giữ và trao truyền gia sản, quan hệ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mà trước hết là thờ thủy tổ, quan hệ cộng đồng của các thành viên cùng sống trong một thiết chế xã hội được tổ chức theo nguyên tắc luân lý… Như vậy, nếu phân tích sâu bản chất của dòng họ trong nhiều mối quan hệ chằng chéo thì định nghĩa sau đây của Léopol Cadière (1869-1955) mới là định nghĩa tương đối toàn diện về dòng họ người Việt: “Người Việt cho dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng thuộc về một họ, tức gia đình theo nghĩa rộng, tổ chức vững chắc, liên kết chặt chẽ bằng huyết thống, bằng những quyền lợi vật chất, bằng những niềm tin tôn giáo, bằng các mối dây luân lý của cộng đồng”.
Nguồn gốc hình thành dòng họ Từ các định nghĩa về Dòng họ đã nêu ở trên có thể thấy Dòng họ được bắt nguồn từ những cá nhân nhất định mà người có ý nghĩa và quan trọng nhất được cả họ suy tôn là ông tổ của dòng họ. Tuy nhiên, tập hợp của các cá nhân sẽ không thể tạo thành Dòng họ mà những cá nhân này phải được gắn kết với nhau bởi một thiết chế đặc biệt đó là các gia đình. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về “tái sản xuất” con người. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.
Các nhà nghiên cứu về gia phả học chia gia đình thành 2 loại: Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) và Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng). Dòng họ phát triển theo quy luật hôn nhân và di truyền. Hôn nhân là m 6 ngẫu nhiên, di truyền là tất yếu. Do quan hệ hôn nhân cha mẹ cưới nhau, ngẫu nhiên gặp nhau đẻ ra con cái và lập thành một gia đình.
Nhiều gia đình, theo quy luật di truyền, cùng một ông, bà tổ có cùng huyết thống tạo thành một dòng họ. Từ các gia đình quan hệ hữu cơ, hạt nhân hay mở rộng, có sự cố kết nhau, mang đậm sắc thái văn hóa tâm linh, phát triển vĩnh hằng, trường tồn trong không gian, thời gian. Như vậy dòng họ là một hiện tượng lịch sử - xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại, một thiết chế xã hội cổ truyền, gồm nhiều gia đình cùng huyết thống, các thế hệ con cháu cùng một Tổ tiên. Những đặc điểm của dòng họ a) Dòng họ là chủ thể có thể được hình thành hoặc chia tách bởi các hạt nhân là các gia đình Qua việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành dòng họ chúng ta có thể dễ thấy dòng họ được hình thành bởi tập hợp các gia đình có cùng huyết thống.
Trong các dòng họ có họ lớn, họ nhỏ song dòng họ phát triển đến một mức độ nhất định sẽ phân ra các chi, nhánh hay cành khác nhau và có chung một ông tổ. Qua thời gian quy mô dòng họ ngày càng lớn lên đến một mức độ nhất định nếu không có sự gắn kết bằng gia phả và không gian địa lý thì dần dần dòng họ nguyên thủy sẽ tự tách thành các chi họ rồi họ khác nhau. Đây là quy luật tất yếu để hình thành nên các dòng họ ở Việt Nam. b) Dòng họ có tài sản chung là các giá trị vật chất độc đáo mang bản sắc văn hóa của người Việt Nam Tài sản chung của dòng họ được thể hiện dưới nhiều dạng tài sản khác nhau nhưng tiêu biểu nhất, hiện hữu nhất có thể nhìn thấy gồm các loại nhau: - Mộ tổ và nghĩa địa riêng: Đối với mỗi người dân Việt, mộ tổ là một trong những bảo vật có giá trị quan trọng hàng đầu.
Đối với người Việt, việc kiến thiết lăng mộ, nhất là mộ tổ quan trọng đến mức dưới thời phong kiến, các triều đại Trần, Lê, Nguyễn… đều ban hành những qui định xây dựng nếu “Ai cậy giàu có, khéo tay xây vượt bậc điển lễ đã ban hành đều bị phạt nặng và m 7 triệt phá”. Những năm gần đây, trong không khí phục hưng dòng họ, các dòng tộc từ Bắc vào Nam ra sức tầm nguyên thủy tổ, tôn tạo từ đường, riêng phần mộ tổ được quan tâm đặc biệt, được khôi nguyên, phục dựng với quy mô khang trang, bề thế bởi người Việt quan niệm: “Sống về mồ về mả, ai sống về cả bát cơm”. - Đất hương hỏa gắn với từ đường, nhà thờ họ: Đến tận hôm nay, tuy có nhiều biến đổi bởi quá trình đô thị hóa nhưng nhiều từ đường (nhà thờ họ) của các dòng tộc trên cả nước vẫn còn lưu giữ được nhiều nhất những giá trị văn hóa. - Gia phả: Một trong những bảo vật được coi là đặc biệt quan trọng của dòng họ là gia phả.
Nội dung quan trọng nhất của gia phả là ghi chép khái quát về lịch sử hình thành phát triển của mỗi dòng tộc. Lịch sử đó thường được thể hiện trong bảng phả hệ. Nhìn vào bảng phả hệ, người ta thấy rõ được mối quan hệ huyết thống từ thủy tổ xa nhất có thể đến thế hệ con cháu đương đại. Ở Việt Nam, cuốn gia phả sớm nhất xuất hiện dưới thời Lý.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm 1206 vua Lý Thái Tổ “xuống chiếu làm ngọc điệp (phả hệ nhà vua)”. Việc làm gia phả phát tích từ hoàng tộc, phát triển ở các tầng lớp quan nha và cuối cùng lan rộng đến các họ tộc dân gian. - Ngoài ra, Dòng họ còn có các tài sản chung khác như các loại đất hương hỏa khác, các đồ thờ cúng tại nhà thờ, tài sản là tiền chung của dòng họ như quỹ để lo giỗ tổ, quỹ khuyến học…. c) Dòng họ gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên bởi quan hệ huyết thống và các giá trị văn hóa tinh thần độc đáo đã được tạo dựng Trong cuộc sống thường ngày, mối quan hệ họ hàng luôn được đề cao: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.
Sống với các mối quan hệ họ hàng, người Việt luôn đề cao ý thức đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái, cưu mang, đùm bọc, che chở nội tộc: “Xẩy cha còn chú, xẩy mẹ bú dì”; “Nó lú nhưng chú nó khôn”. Chính xuất phát từ mối quan hệ qua lại có tính huyết thống và gắn kết chặt chẽ nêu trên, Dòng họ đã tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần tiêu biểu m 8 hàng đầu của dòng họ người Việt trong đó nổi bật nhất là ý thức tìm về cội nguồn, tổ quán. Dù ở đâu và bất cứ khi nào thì ý thức về tổ tiên trước hết là tổ tiên dòng tộc vẫn là một trong những ý thức sâu sắc nhất, ăn vào tâm trí, ngấm trong máu thịt mỗi người dân Việt. Ý thức này được thể hiện rất rõ trong thờ cúng tổ tiên dòng tộc.
Hầu hết các dòng họ người Việt đều thờ cúng tổ tiên dòng tộc. Người tộc trưởng được ký thác nhiệm vụ thiêng liêng thay mặt con cháu chăm sóc từ đường, sớm tối đỏ đèn, quanh năm nhang khói. Đặc biệt là ngày giỗ tổ - ngày hóa của thủy tổ - luôn được tổ chức trang trọng. Nhiều dòng tộc thực hành nghi thức tế lễ rất qui mô.
Trong ngày này, con cháu của các chi, phái, ngành, nhánh, cành… nếu không tề tựu được đông đủ thì nhất thiết phải cắt cử nhân đinh về dự lễ tại từ đường, thắp nén tâm nhang, một lòng hướng về tổ quán. Ngay cả những người dân Việt vì nhiều lý do phải xa tổ quốc, định cư sinh sống tại khắp các châu lục nhưng ý thức về tổ gốc không hề phai nhạt. Tiêu biểu là dòng họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc.