Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Chương 3: Thực trạng đầu tư của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện giai đoạn 2010-2015. Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường hoạt động đầu tư của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện đến năm 2020. 13 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 2.1 Doanh nghiệp bảo hiểm trong nền kinh tế 2. Bảo hiểm và phân loại bảo hiểm 2.1 Bảo hiểm Sự ra đời của bảo hiểm.
Cho đến nay, người ta vẫn chưa thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo hiểm bắt đầu từ đâu. Nhưng điều được mọi người công nhận là: Các hoạt động sơ khai, mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc sống con người ở mọi lúc, mọi nơi. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời gian.
Trong nền kinh tế hiện nay, Bảo hiểm là một ngành dịch vụ đang phát triển rất mạnh mẽ và thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong đời sống cũng như tác động tới các ngành khác trong xã hội. Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu ấy cũng phát triển một cách tương ứng. Các hoạt động này dần dần được quy định lại theo các tiêu chuẩn khác nhau một cách chính thức, hợp pháp và có tên gọi chung là Bảo hiểm. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển của ngành Bảo hiểm đã trải qua các giai đoạn: - Giai đoạn dự trữ thuần túy : Hoạt động đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc sống đầu tiên là dự trữ.500 trước công nguyên (hơn 4.000 năm trước đây), ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn.
Cũng vào khoảng thời gian này, những người lái buôn đã lập ra một quỹ chung để đảm bảo trường hợp hàng hóa bị mất mát trong quá trình vận chuyển. - Giai đoạn cho vay nặng lãi: Khi xã hội ngày càng phát triển và các hoạt động của con người trở nên đa dạng hơn thì việc dự trữ thuần tuý không thể giải 14 quyết đầy đủ nhu cầu của con người. Thay vì tự tích góp cho đến khi có đủ tiền, nhà buôn có thể thông qua những người cho vay để có tiền chuẩn bị cho chuyến hàng. Người cho vay sẽ nhận được một khoản lãi suất do người đi vay trả.
Tuy nhiên, phương pháp này lại nảy sinh một vấn đề khác, đó là mức lãi suất quá hà khắc, có thể lên đến 40%. Do vậy, nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng các sắc lệnh để chấm dứt hoạt động cho vay nặng lãi. - Giai đoạn thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên + Hình thức cổ phần: Vào khoảng 2000 năm trước công nguyên, các thương gia người Trung Quốc đã cùng góp vốn, đi buôn. Những chuyến hàng được thực hiện do sự đóng góp của nhiều người; mỗi người góp một phần nào đó vào chuyến hàng và chịu trách nhiệm theo phần đóng góp đó.
Khi chuyến hàng về đến đích, lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ lệ đóng góp cổ phần. Nếu chuyến hàng gặp rủi ro thì hậu quả thiệt hại cũng được chia sẻ cho nhiều người. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất nếu gặp phải cho một người và chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên, nó vẫn bộc lộ nhiều điểm yếu như: rất khó để có đủ người tham gia góp cổ phần cho một chuyến hàng; phải dàn xếp thỏa thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi.
+ Hình thức bảo hiểm: Một hình thức vừa giúp giảm thiểu những thiệt hại lớn có thể gặp phải, vừa tránh được việc phải mất quá nhiều thời gian để tập trung vốn, kêu gọi đóng góp cổ phần, dàn xếp chia sẻ trách nhiệm cho các nhà buôn. đã ra đời và phát triển.Đó là hình thức bảo hiểm. Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán hàng hoá bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải có nội dung cơ bản sau: Một bên nhà buôn/chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng hoá, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên nhân nhất định thì bên thứ hai (công ty bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra.
Như vậy, bảo hiểm hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm, sau đó, cùng 15 với “cuộc cách mạng thương mại" vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ. Hoạt động bảo hiểm được hình thành sau một quá trình phát triển lâu dài các hoạt động của con người. Hoạt động này đã đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết về an toàn của con người trong cuộc sống và sinh hoạt. Khái niệm bảo hiểm Được ra đời từ khá sớm, khái niệm bảo hiểm được các nhà nghiên cứu đưa ra theo góc độ nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm tài chính: “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”. Theo Dennis Kessler: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”. Theo Monique Gaullier: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”.
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”. Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2010): “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Mặc dù có sự khác biệt trong các khái niệm về bảo hiểm, nhưng nhìn 16 chung các khái niệm đều mô tả được tính chất san sẻ rủi ro của bảo hiểm, chuyển giao rủi ro thông qua cơ chế phí bảo hiểm. Như vậy bảo hiểm được hiểu là: “Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc được chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba khác thông qua hợp đồng bảo hiểm.
Khoản tiền bồi thường này do một tổ chức (thường là công ty bảo hiểm) đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”.2 Phân loại bảo hiểm Trên thế giới hiện nay có bốn loại hình bảo hiểm là bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm thương mại là loại hình bảo hiểm kinh doanh nhằm mục tiêu chính là lợi nhuận. Phạm vi hoạt động kinh doanh của bảo hiểm thương mại rất rộng do đối tượng của nó chi phối. Đây là loại hình bảo hiểm chủ yếu và rất phát triển trong bốn loại hình bảo hiểm trên thế giới.
Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại chịu sự chi phối của Luật kinh doanh bảo hiểm và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật như Nghị định, Thông tư, các điều ước và tập quán quốc tế. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (sửa đổi năm 2010): các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành: Bảo hiểm nhân thọ, Bảo hiểm phi nhân thọ, Bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Bảo hiểm thương mại bao gồm 2 nhóm nghiệp vụ: Bảo hiểm Nhân thọ và Bảo hiểm Phi nhân thọ. Bảo hiểm Nhân thọ là loại nghiệp vụ Bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
Bảo hiểm Phi nhân thọ là loại nghiệp vụ Bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ Bảo hiểm khác không thuộc Bảo hiểm Nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ, gồm: Bảo hiểm Sinh kỳ Bảo hiểm Tử kỳ 17 Bảo hiểm Hỗn hợp Bảo hiểm Trả tiền định kỳ Bảo hiểm Liên kết đầu tư Bảo hiểm Hưu trí Bảo hiểm Trọn đời Bảo hiểm phi nhân thọ, gồm: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại bảo hiểm thiệt hại Bảo hiểm hàng hóa Bảo hiểm hàng không Bảo hiểm xe cơ giới Bảo hiểm cháy, nổ Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu Bảo hiểm trách nhiệm Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh Bảo hiểm nông nghiệp Bảo hiểm sức khỏe, gồm: Bảo hiểm tai nạn con người Bảo hiểm y tế Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe. Nội dung của Luận văn này chỉ đề cập đến các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động kinh doanh Bảo hiểm Phi nhân thọ.2 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế. Bảo hiểm tác động và ảnh hưởng nhiều đến hoạt động đời sống kinh tế – xã hội, có vai trò quan trọng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.
Bảo hiểm tác động đến công tác phòng tránh rủi ro, hạn chế tổn thất, khắc phục thiệt hại đảm bảo an toàn xã hội Bù đắp các tổn thất và khắc phục hậu quả thiệt hại từ rủi ro là tác dụng chủ yếu 18 của bảo hiểm, nguyên nhân để bảo hiểm ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến vai trò của các DNBH đã cung cấp các loại dịch vụ bảo hiểm nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như lúc ban đầu cho bên mua bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra.