chương 1, tác giả đã trình bày về tính cấp thiết, tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước qua đó xác định khoảng trống của nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu: Xác định phương pháp tiếp cận và khung nghiên cứu đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong kiểm toán BCTC của DNNY trên TTCK Việt Nam; thiết lập mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của DNNY; đưa ra các giả thuyết nghiên cứu về đánh giá RR có SSTY trong kiểm toán BCTC trong các DNNY trên TTCK Việt Nam; thực trạng đánh giá RR có SSTY trong kiểm toán BCTC của các DNNY trên TTCK Việt Nam; khuyến nghị hoàn thiện nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong kiểm toán BCTC của DNNY trên TTCK Việt Nam. Xác định về đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. 13 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ RỦI RO CÓ SAI SÓT TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 2.1 Đặc điểm báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết và yêu cầu về độ tin cậy của thông tin 2.1 Đặc điểm báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết BCTC của DNNY là kênh thông tin có tác động mạnh đến quyết định của nhà đầu tư vào cổ phiếu của DNNY. Do vậy, BCTC của DNNY cũng có nhiều điểm đặc biệt hơn đối với DN khác (Bùi Thị Thủy, 2014).
Thứ nhất, BCTC của DNNY cần bảo đảm độ tin cậy cao và BCTC của DNNY có tính nhạy cảm. Đối với DNNY thì ngoài nhà quản lý, BGĐ và nhân viên của DN quan tâm đến BCTC còn có những nhà đầu tư, các bên quan tâm nên theo luật định BCTC của DNNY cần phải được công khai minh bạch rõ ràng. Khi BCTC không minh bạch rõ ràng sẽ có tác động đến quyết định của nhà đầu tư, mất uy tín với công chúng là cơ sở cho đối thủ cạnh tranh khai thác gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của DN. Vì vậy, BCTC của DNNY cần đảm bảo độ tin cậy cao và có tính nhạy cảm; Thứ hai, BCTC cung cấp các chỉ tiêu về tính sinh lời: với đặc trưng là công ty cổ phần (DNNY) nên có sự góp vốn của các cổ đông.
Do đó, BCTC giúp theo dõi và đưa ra các chỉ tiêu liên quan tới VCSH của từng cổ đông tại các thời điểm. Công tác này dẫn tới một loạt chỉ tiêu chỉ xuất hiện trên BCTC của công ty cổ phần nói chung và của DNNY nói riêng như “thặng dư vốn cổ phần”, “lãi cơ bản trên một cổ phiếu” trên BCKQKD; hay “lợi ích của cổ đông thiểu số” trên các BCTC hợp nhất; “cổ phiếu quỹ’ trên bảng cân đối kế toán và thuyết minh BCTC sẽ được thể hiện chi tiết. Đối với các DNNY thì các chỉ tiêu này được thể hiện một cách rõ rệt hơn so với các DN không niêm yết; Thứ ba, BCTC tổng hợp khối lượng lớn các nghiệp vụ phát sinh: Các DN khi được niêm yết đã được đánh giá về quy mô để được phép niêm yết. Theo đó, DNNY thường có quy mô hoạt động rộng.
Bên cạnh đó, DNNY có thể tồn tại những mối quan hệ phức tạp như: Công ty mẹ - công ty con, công ty liên kết; Đó là những mối quan hệ về tài chính phức tạp. Đồng thời, lĩnh vực hoạt động các DN cũng đa dạng (Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, bất động sản) sẽ làm cho BCTC trở lên phức tạp. 14 Thứ tư, BCTC của DNNY phải tuân thủ các quy định khắt khe của TTCK, trong đó có yêu cầu bắt buộc phải kiểm toán: các DNNY ngoài việc hoạt động dựa vào Luật KTNB DN nói chung còn phải hoạt động theo quy định của luật chứng khoán. Một trong các quy định của luật chứng khoán là BCTC phải tuân thủ nghiêm ngặt bằng cách công bố và bắt buộc phải được kiểm toán.
Việc công bố BCTC có thể thực hiện theo tháng, quý, 6 tháng hay 1 năm do BTC quy định. Việc lập BCTC của DNNY ngoài việc tuân thủ chuẩn mực chung, còn phải tuân thủ chuẩn mực kế toán có thể dành riêng cho các DNNY.2 Yêu cầu về độ tin cậy của thông tin Thông tin trên BCTC cần phải bảo đảm tính tin cậy. Để đáp ứng được yêu cầu này, thông tin trên BCTC phải là những thông tin khách quan và có thể thẩm định được. Thông tin trên BCTC mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bất kì cá nhân nào do nó là kết quả của quá trình kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, căn cứ từ các chứng từ kế toán và tuân thủ theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành.
Hơn nữa, thông tin trên BCTC có thể được thẩm định để tìm kiếm các bằng chứng chứng minh cho tính đúng đắn của các số liệu trên BCTC. Bên cạnh đó, ý kiến của KTV về tính trung thực, khách quan, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán sẽ nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC. ISA 1- Trình bày các báo cáo tài chính thì các thông tin được trình bày trên BCTC phải đảm bảo yêu cầu sau: Nhất quán: Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong BCTC phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, ngoài ra cũng có các trường hợp không tuân theo nguyên tắc: Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động DN hoặc xem xét lại việc trình bày BCTC cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện, hoặc: một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày. Thích hợp: Thông tin trong BCTC được coi là thích hợp khi nó phản ánh đúng bản chất của sự việc, thể hiện được tầm quan trọng của thông tin.
Độ tin cậy của thông tin giúp người sử dụng thông tin có thể đưa ra các quyết định kinh tế của mình. Độ tin cậy: Thông tin đáng tin cậy là thông tin không có lỗi trọng yếu. Thông tin có độ tin cậy khi được trình bày trung thực và thận trọng. Nội dung của thông tin hoàn chỉnh về thông tin mà người sử dụng thông tin quan tâm, phản ánh đúng bản chất của sự việc thể hiện thái độ trung lập đối với sự việc.
Ngoài ra, độ tin cậy của thông tin còn thể hiện sự dễ hiểu của nội dung thông tin truyền tải. 15 Khách quan : Để có độ tin cậy cao, thông tin trình bày trên BCTC kế toán phải khách quan, không được xuyên tạc hoặc bóp méo một cách cố ý thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Các BCTC sẽ không được coi là khách quan nếu việc lựa chọn hoặc trình bày không đúng theo quy định ảnh hưởng đến việc ra quyết định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó nhằm đạt đến kết quả mà người lập báo cáo đã biết trước. Đầy đủ: thông tin trên BCTC phải đảm bảo đầy đủ, không bỏ sót bất cứ khoản mục hay chỉ tiêu nào vì một sự bỏ sót dù nhỏ nhất cũng có thể gây ra thông tin sai lệch.
Khả năng so sánh được: Các thông tin được trình bày trên BCTC nhằm so sánh giữa các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong BCTC của kỳ trước. Các thông tin cần bao gồm các thông tin cần diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được BCTC kỳ hiện tại. Tính dễ hiểu: Thông tin có tính dễ hiểu là thông tin mà đối với người sử dụng - những người có kiến thức cơ bản về kinh doanh, kinh tế và kế toán và muốn nghiên cứu về thông tin đều có thể hiểu được.2 Sai sót và sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính 2.1 Sai sót trong báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm sai sót Theo từ điển Tiếng Việt (2007) thì: sai sót là phạm lỗi do sơ suất. Theo Nguyễn Quang Quynh, Nguyễn Thị Phương Hoa (2010) thì gian lận và sai sót đều là sai phạm.
Tuy nhiên, về mặt bản chất, gian lận và sai sót có nhiều điểm khác nhau. Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi. Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể là sự trình bày sai lệch có chủ đính các thông tin trên BCTC do 1 hay nhiều người trong BGĐ công ty, các nhân viên. Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn, bỏ sót hoặc do yếu kém về năng lực nên gây ra sai phạm.
Những loại sai sót bao gồm: Loại 1: Sai sót phát sinh từ việc ghi nhận các khoản mục bao gồm sai sót trong việc ghi nhận các khoản mục tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện mà kế toán đã ghi nhận để trình bày trên BCTC trong kỳ. Loại 2: Sai sót đối với xác định giá trị các khoản mục bao gồm các sai sót do tính toán, xác định giá gốc, phân bổ giá gốc các khoản mục tài sản, nợ phải trả, xác định thu nhập, chi phí. do kế toán áp dụng sai chế độ kế toán, hoặc hiểu sai chế độ kế 16 toán hiện hành. Loại 3: Sai sót trong phân loại, trình bày và thuyết minh về các khoản mục bao gồm sai sót do kế toán khi hạch toán sử dụng sai tài khoản và phản ánh sai quan hệ đối ứng tài khoản dẫn đến trình bày sai trên BCTC, không đúng khoản mục.
Các yếu tố làm sai sót nảy sinh và phát triển Các yếu tố làm sai sót nảy sinh thường bao gồm các yếu tố: năng lực, sức ép, cũng như lề lối làm việc có thể gây ra sai sót (Nguyễn Quang Quynh). Năng lực xử lý công việc yếu kém sẽ làm cho sai sót gia tăng. Bên cạnh đó, yếu tố về mặt sức ép cũng được xem như yếu tố quan trọng gây ra sai sót. Ví dụ như: áp lực về thời gian, áp lực về môi trường làm việc.
Mặt khác, lề lối làm việc cẩu thả, thiếu thận trọng, thiếu ý thức trách nhiệm sẽ làm sai sót nảy sinh.