ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, vấn đề môi trƣờng đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Nƣớc ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa thúc đẩy quá trình phát triển dân sinh, nhu cầu nơi ở, sinh hoạt của ngƣời dân ngày càng tăng cao từ đó nhiều khu đô thị đƣợc xây dựng kéo theo lƣợng chất thải phát sinh ngày càng nhiều. Trong đó, nƣớc thải sinh hoạt chƣa qua xử lý đã trở thành mối lo ngại lớn cho khu dân cƣ, khu đô thị. Đứng trƣớc thực trạng môi trƣờng suy thoái nhƣ vậy việc các khu dân cƣ và khu đô thị có nhu cầu hình thành và xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung là vô cùng cần thiết.
Quận Hà Đông là trung tâm phát triển về kinh tế của thành phố Hà Nội. Từ đó, việc phát triển của các khu đô thị đã phản ánh đƣợc nhu cầu dân sinh và tốc độ phát triển về kinh tế và xã hội. Khu đô thị Văn Phú – Quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội do Tổng công ty Cổ phần Đầu tƣ Xây dựng và Kinh doanh nhà Quảng Ninh tiến hành thi công từ năm 2005 đến 2008 hoàn thành. Hiện nay Khu đô thị đang xây dựng giai đoạn 2 khu đô thị mới Văn Phú chính vì vậy lƣợng dân cƣ ngày càng tăng lên, sức ép về nhu cầu sử dụng nƣớc tăng nhanh kéo theo lƣợng nƣớc thải sinh hoạt cũng tăng lên ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống ngƣời dân xung quanh khu vực tập trung và xử lý nƣớc thải.
Do đó, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá khả năng xử lý nước thải sinh hoạt bằng mô hình hệ thống b aerotank quy mô phòng thí nghiệm” nhằm đề xuất hệ thống xử lý nƣớc thải sinh hoạt có hiệu quả cao và giá thành xây dựng phù hợp góp phần làm giảm ô nhiễm nƣớc thải sinh hoạt gây ra tại khu đô thị Văn Phú – Quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc thải sinh hoạt 1. Khái niệm nước thải sinh hoạt Theo PGS.
Nguyễn Văn Phƣớc, nƣớc thải sinh hoạt (NTSH) là nƣớc thải nhà tắm, giặt, hồ bơi, nhà ăn, nhà vệ sinh, nƣớc rửa sàn nhà,. Nƣớc thải sinh hoạt chứa khoảng 58% chất hữu cơ và 42% chất khoáng. Đặc điểm cơ bản của nƣớc thải sinh hoạt là hàm lƣợng các chất hữu cơ không bền sinh học nhƣ cacbonhydrat, protein, mỡ, chất dinh dƣỡng (photphat, nito), vi trùng, chất rắn và mùi [7]. Theo QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nƣớc thải sinh hoạt: Nƣớc thải sinh hoạt là nƣớc thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con ngƣời nhƣ ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân [2].
Nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt Nƣớc thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động sống hàng ngày của con ngƣời nhƣ tắm rửa, bài tiết, chế biến thức ăn. Khối lƣợng nƣớc thải của cộng đồng dân cƣ phụ thuộc vào quy mô dân số, tiêu chuẩn cấp nƣớc, khả năng và đặc điểm của hệ thống thoát nƣớc. Tiêu chuẩn nƣớc thải sinh hoạt ở các khu dân cƣ đô thị thƣờng là 100 – 250 lít/ngƣời.ngày đêm (đối với các nƣớc đang phát triển) và từ 150 – 500 lít/ngƣời. Ở nƣớc ta hiện nay, tiêu chuẩn cấp nƣớc sinh hoạt dao động từ 120 – 180 lít/ngƣời.
Đối với khu vực nông thôn tiêu chuẩn cấp nƣớc từ 50 – 100 lít/ngƣời. Thông thƣờng tiêu chuẩn nƣớc thải lấy khoảng 80 – 100% tiêu chuẩn nƣớc cấp. Nƣớc thải sinh hoạt đƣợc thu gom từ các căn hộ, cơ quan, trƣờng học, khu dân cƣ, cơ sở kinh doanh, chợ. Các trung tâm đô thị thƣờng có tiêu chuẩn sử dụng nƣớc cao hơn so với các vùng ngoại thành và nông thôn.
Do đó, lƣợng nƣớc thải sinh hoạt tính trên đầu ngƣời cũng có sự khác biệt giữa các khu vực này. 2 Tại các khu đô thị thƣờng có hệ thống thoát nƣớc dẫn ra các con sông, kênh, rạch, đối với các khu vực ngoại thành, nông thôn thƣờng chƣa có hệ thống thoát nƣớc nên nƣớc nên nƣớc thải đƣợc dẫn thẳng ra các mƣơng rãnh, ao hồ và thoát bằng hình thức tự thấm là chủ yếu [6].1: Tải trọng chất bẩn tính cho một ngƣời trong ngày đêm Hệ số phát thải Chỉ tiêu ô nhiễm Các quốc gia gần gũi Theo tiêu chuẩn Việt Nam với Việt Nam (TCXD - 51 - 84) Chất rắn lơ lửng 70 – 145 50 - 55 BOD5 45 – 54 25 - 30 COD 72 – 102 - Nitơ tổng cộng (N) 6 – 12 - Nitơ amoni (N-NH4+) 2.8 7 Phospho tổng số(P) 0.7 Chất hoạt động bề mặt - 2.5 Dầu mỡ 10 – 30 - (Nguồn: GS. Lâm Minh Triết, 2006) 1. Thành phần và đặc tính nước thải sinh hoạt Thành phần và tính chất nƣớc thải sinh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc nƣớc thải.
Đặc điểm chung của nƣớc thải sinh hoạt là thành phần của chúng tƣơng đối ổn định. Các thành phần này bao gồm 52% chất hữu cơ, 48% chất vô cơ, nồng độ chất hữu cơ trong nƣớc thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150 – 450 mg/l theo trọng lƣợng khô, khoảng 20 – 40% chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học. Ngoài ra nƣớc thải sinh hoạt còn chứa nhiều các vi sinh vật gây bệnh và các độc tố của chúng. Phần lớn các vi sinh vật trong nƣớc thải là các vi khuẩn và vi rút gây bệnh nhƣ: các vi khuẩn gây dịch tả, lỵ, thƣơng hàn [6].
Thành phần nƣớc thải đƣợc chia làm hai nhóm chính: 3 Thành phần vật lý: theo trạng thái lý học các chất bẩn trong nƣớc thải đƣợc chia thành 3 nhóm: - Nhóm 1: gồm các chất không tan ở dạng lơ lửng kích thƣớc lớn (những hạt có đƣờng kính lớn hơn 10-1 mm) và ở dạng huyền phù, nhũ tƣơng, bọt (những hạt có đƣờng kính từ 10-4 đến 10-1 mm). - Nhóm 2: gồm các chất ở dạng keo (những hạt có kích thƣớc từ 10 -6 đến 10-4 mm). - Nhóm 3: gồm các chất hòa tan ở dạng phân tử. Những hạt này có đƣờng kính nhỏ hơn 10-6 mm.
Chúng không tạo thành pha riêng mà trở thành hệ một pha hay còn gọi là dung dịch thật. Thành phần hóa học: đƣợc biểu thị dƣới dạng các chất trong nƣớc thải có các tính chất hóa học khác nhau, đƣợc chia thành ba nhóm: - Thành phần vô cơ: cát, sét, xỉ, axit vô cơ, các ion của muối phân ly. - Thành phần hữu cơ: các chất có nguồn gốc từ động vật, thực vật, cặn bã, bài tiết. + Các chất chứa nitơ: ure, protein, acid amin.
+ Các hợp chất nhóm hydrocacbon: mỡ, xà phòng, cellulose. + Các hợp chất có chứa phospho, lƣu huỳnh. - Thành phần sinh học: nấm men, nấm mốc, tảo, vi khuẩn. Hiện trạng ô nhiễm môi trƣờng do nƣớc thải sinh hoạt và ảnh hƣởng đến con ngƣời và môi trƣờng 1.
Hiện trạng ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt Trên thế giới có khoảng hơn 7 tỷ ngƣời sinh sống và thải ra hàng tỷ m3 nƣớc thải sinh hoạt mỗi ngày, trong đó chứa hàng trăm nghàn tấn các chất hữu cơ, dầu mỡ, chất dinh dƣỡng, vi sinh vật gây bệnh. Phần lớn lƣợng nƣớc thải này không đƣợc xử lý mà thải trực tiếp ra môi trƣờng. Ở những nƣớc nghèo trên thế giới nƣớc thải đổ trực tiếp xuống sông, hồ. Vì vậy mà nhiều dòng sông đã trở thành dòng sông chết.
Điều này không chỉ gây hại cho môi 4 trƣờng xung quanh mà nguy hiểm hơn khi các chất ô nhiễm ngấm xuống tầng nƣớc ngầm gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm. Trong hoạt động sống của con ngƣời cần một lƣợng nƣớc rất lớn, xã hội càng phát triển, nhu cầu dùng nƣớc càng tăng. Cƣ dân sống trong thời nguyên thủy chỉ cần 10 lít nƣớc/ngƣời/ngày đêm nhƣng hiện tại các đô thị lƣợng nƣớc sinh hoạt cần gấp hàng chục lần nhƣ vậy. Nƣớc thải sinh hoạt dao động trong phạm vi rộng, tùy thuộc vào mức sống và các thói quen của ngƣời dân, có thể ƣớc tính bằng 80% lƣợng nƣớc sử dụng.
Ở Mỹ và Canada là nơi nhu cầu sử dụng nƣớc lớn nên lƣợng nƣớc thải ra môi trƣờng là lớn khoảng 200 – 400 lít/ngƣời/ngày đêm. Trong các đô thị nƣớc thải sinh hoạt từ các khu dân cƣ, các công trình công cộng, có đặc điểm là hàm lƣợng các chất hữu cơ không bền vững tính theo BOD5 cao, là môi trƣờng cho các vi khuẩn gây bệnh [5]. Theo Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ môi trƣờng công bố hiện nay, sông ngòi ở các vùng đô thị Việt Nam, đặc biệt các thành phố lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng do nƣớc thải chƣa qua xử lý. Hàm lƣợng các chất gây ô nhiễm trong các con sông của Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hải Dƣơng, Bắc Giang, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Đồng Nai cao hơn tiêu chuẩn rất nhiều.
Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt đến con người và môi trường 1. Ảnh hưởng đến con người Theo Báo cáo tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố đầu năm 2010 cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 ngƣời tử vong do điều kiện nƣớc sạch và vệ sinh nghèo nàn và thấp kém. Theo thống kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nƣớc ta liên quan đến nguồn nƣớc. Ngƣời dân ở các khu vực nông thôn và thành thị đang đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trƣờng nƣớc đang bị ô nhiễm trầm trọng.
Ô nhiễm nƣớc thải sinh hoạt dẫn đến ô nhiễm nƣớc mặt, nƣớc ngầm và nó ảnh 5 hƣởng trực tiếp đến con ngƣời, nhƣ vậy, việc xử lý nƣớc thải sinh hoạt là vô cùng cần thiết [1].Ảnh hưởng đến môi trường Nƣớc thải sinh hoạt mang theo các chất độc hại thải ra môi trƣờng, ảnh hƣởng lớn nhất là môi trƣờng nƣớc do thành phần trong nƣớc thải nhƣ: - Chất rắn lơ lửng (SS): lắng đọng ở nguồn tiếp nhận gây ra điều kiện yếm khí. - COD, BOD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ lƣợng lớn và gây thiết hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hƣởng của hệ sinh thái môi trƣờng nƣớc. Khi ô nhiễm quá mức hình thành điều kiện yếm khí. Quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm nhƣ H2S, NH3, CH4.
làm cho môi trƣờng nƣớc có mùi hôi và làm giảm pH của môi trƣờng nƣớc tiếp nhận. Tổng quan các phƣơng pháp xử lý nƣớc thải Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng nhiều mô hình xử lý nƣớc thải, đặc biệt thƣờng sử dụng kết hợp ba phƣơng pháp cơ học, hóa – lý và phƣơng pháp sinh học.